Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Từ điển Thái Bình » "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 1-390, A - C)

Từ điển Thái Bình

"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 1-390, A - C)

Ngày đăng: 31/07/2013 In trang

"Ông Nguyễn Quang Ân là nhà sử học, công tác tại Viện Sử học Việt Nam.

Từ năm 1998 ông là Giám đốc Trung tâm Unesco

Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông Ân là tác giả và đồng chủ biên tác phẩm Từ điển Thái Bình và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn sử học khác. Ông đã góp ý kiến và nhiệt tình gửi tới BBT một số tác phẩm đã xuất bản về quê hương Thái Bình để giúp BBT có tài liệu tham khảo, tuyên truyền giới thiệu tới bà con đồng hương xa nhà.
Xin quý bạn đọc lưu ý mấy điểm như sau:
1/ Về nội dung và thứ tự các mục từ hoàn toàn theo bản in ở trong nước.
2/ Về hình thức có sự thay đổi như: thứ tự số trang, phông chữ và tên mục từ không dùng chữ in hoa như bản in.

 

3/ Do điều kiện kỹ thuật trình bầy trên trang web không thể đưa chữ Hán Nôm và cũng không thể đưa hết các ảnh minh họa ở nhiều mục từ như sách đã in.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Quang Ân đã có tâm huyết và gửi tặng cho dhthaibinh.de bộ sách "Từ điển Thái bình" này và mong rằng bạn đọc của dhthaibinh.de sẽ hiểu hơn nữa về quê hương Thái Bình chúng ta".

Cuốn "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập gồm 4990 mục từ, 1300 trang in khổ 19x27cm do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo biên soạn; Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên; Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2010.

Chúng tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc toàn tập của cuốn từ điển qúy giá này.

***

 

Lời nói đầu

 

QUY CÁCH BIÊN SOẠN

Địa chí và từ điển bách khoa địa phương đều ghi chép những hiểu biết về một vùng lãnh thổ hay một đơn vị hành chính. Địa chí Thái Bình có năm phần: Tự nhiên và dân cư, Lịch sử, Chính trị, Kinh tế, Văn hóa; gồm 41 chương, trình bày theo thể loại truyền thống. Từ điển Thái Bình là sách tra cứu, được biên soạn theo phương pháp từ điển bách khoa để mở rộng nội dung và cụ thể hóa những tri thức mà bộ sách Địa chí Thái Bình đã trình bày một cách bao quát, đồng thời cũng để dễ sử dụng hơn khi cần khai thác thông tin về một đối tượng cụ thể như một con sông, một xã, một di tích lịch sử, một tập quán, một món ăn, một trò chơi dân gian, một sự kiện, một nhân vật lịch sử… Biên soạn từ điển bách khoa địa phương là một hướng mới cho sách địa phương chí thời kỳ tin học phát triển.
Từ điển Thái Bình được biên soạn nhằm mục đích giới thiệu và lưu giữ những hiểu biết về tỉnh Thái Bình từ xưa tới nay về các mặt tự nhiên, dân cư, lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hệ thống mục từ sắp xếp theo thứ tự a, b, c...  Phương châm biên soạn là thu thập rộng, ghi chép chọn lọc, coi trọng tính thực tế sử dụng, đáp ứng nhu cầu tra cứu của nhiều đối tượng bạn đọc trong và ngoài tỉnh.



I. Phạm vi nội dung
Từ điển Thái Bình chỉ tuyển chọn những mục từ biểu hiện đất nước, con người Thái Bình xưa và nay:  
Về Địa lý gồm các nhóm mục từ:
1. Địa lý tự nhiên:  Sông, biển, bờ biển, khí hậu, thời tiết, tài nguyên, thắng cảnh...  
2. Địa lý hành chính: Các đơn vị hành chính xưa và nay (trấn, xứ, phủ, huyện, tổng, xã...). Các mục từ “xã cũ”, ngoài nội dung về sự lệ thuộc, thay đổi tên gọi qua các thời kỳ, còn có  những thông tin về các nguồn tài liệu cũ liên quan đến địa phương hiện có ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Thông tin khoa học xã hội như: Dân số, ruộng đất, thần tích, thần sắc, tục lệ, hương ước; đồng thời cũng có các mục từ thuật ngữ Địa bạ, Thần tích, Thần sắc, Bản khai thần tích - thần sắc, Tục lệ, Hương ước... ở phần Phụ lục để hướng dẫn trước khi đọc các mục từ “xã cũ”.

Về Lịch sử, gồm các nhóm mục từ:
1.  Sự kiện lịch sử (phong trào, cuộc khởi nghĩa, trận đánh, chiến dịch, hội nghị...)
2.  Đơn vị lực lượng vũ trang,  đồn bốt, kho tàng...
3.  Đảng phái chính trị, bộ máy hành chính trước năm 1945

Về Kinh tế, gồm các nhóm mục từ:
1. Đặc sản và những  sản vật, vật nuôi, cây trồng phổ biến ở Thái Bình
2. Công cụ sản xuất, phương tiện vận tải, vật liệu xây dựng truyền thống
3. Chợ, nghề, làng nghề
4. Công trình xây dựng (đường giao thông, đê, cống, cầu, cảng...)

Về Văn hóa - Xã hội,  gồm các nhóm mục từ:
1.  Văn hóa vật thể (di chỉ khảo cổ học, di sản Hán Nôm,  cổ vật, đình, chùa, đền, miếu; thư tịch; nhạc cụ; ẩm thực, trang phục, nhà ở...)
2.  Văn hóa phi vật thể (phong tục, tập quán; tín ngưỡng, tôn giáo…)
3.  Các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể quần chúng, hội nghề nghiệp, trường học, bệnh viện…

Về nhân vật
Các mục từ nhân vật giúp người đọc tra cứu về người Thái Bình có những đóng góp nổi trội trong công cuộc dựng nước, giữ nước của dân tộc và người ở các miền quê khác có công với Thái Bình hoặc liên quan đến những sự kịên lịch sử quan trọng ở Thái Bình.
Từ điển Thái Bình không phải là sách từ điển danh nhân nên đối tượng tuyển chọn rộng rãi hơn, bao gồm nhân vật chính diện và cả một số nhân vật phản diện:

a. Nhân vật trước Cách mạng tháng Tám 1945:
- Tiến sĩ nho học thời phong kiến
- Những vị thần được thờ ở Thái Bình còn thần tích, thần phả lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
- Người có công, có đức, có tài được sử sách ghi chép, nhân dân truyền tụng ca ngợi.
- Những người tham gia các phong trào yêu nước (đấu tranh vũ trang, Duy tân, Đông du, Đông Kinh nghĩa thục…) được ghi chép trong sử sách.
- Thủ lĩnh các phong trào chống phong kiến, đế quốc trước khi có Đảng Cộng sản.
- Những chiến sĩ cách mạng trước tháng 8 - 1945, bị địch bắt tù đầy đã nêu cao tinh thần kiên trung, bất khuất góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.
- Một số quan lại trước 1945 liên quan đến lịch sử, văn hóa Thái Bình.

b. Nhân vật sau Cách mạng tháng Tám 1945
- Anh hùng lao động, Anh hùng LLVTND (từ 1945 đến nay).
- Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Ban cán sự Đảng tỉnh, Phó Bí thư thường trực từ 1930 đến nay và Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch HĐND tỉnh Thái Bình từ 1945 đến nay.
- Người Thái Bình là: Ủy viên Trung ương ĐCSVN (từ 1930 đến nay) và những người giữ chức vụ từ cấp Bộ trưởng và tương đương trở lên (từ 1945 đến nay).
- Người Thái Bình là cấp tướng trong LLVTND (Quân đội, Công an, Công an vũ trang).
- Người Thái Bình là Nghệ sĩ Nhân dân; Thầy thuốc Nhân dân; Nhà giáo Nhân dân; Giáo sư; Tiến sĩ khoa học.
- Người Thái Bình có công trình khoa học, tác phẩm văn học nghệ thuật được Giải thưởng Hồ Chí Minh hoặc Giải thưởng

Nhà nước.
- Văn nghệ sĩ, Nhà nghiên cứu là người Thái Bình (đã qua đời) có công trình khoa học, tác phẩm văn học nghệ thuật đã công bố, được tổ chức nghề nghiệp hoặc dư luận xã hội khẳng định giá trị và những đóng góp đối với quê hương, đất nước.
- Những tác giả có tác phẩm văn học nghệ thuật nổi tiếng viết về Thái Bình.
- Những người thuộc các đối tượng kể trên nhưng không có đủ tài liệu hoặc vì lý do nào đó không cấu tạo mục từ riêng, sẽ được giới thiệu ở các mục từ liên quan.

Phụ lục:
Gồm những mục từ là thuật ngữ; chức quan; sự kiện lịch sử; đơn vị hành chính… chung của cả nước hay khu vực, nhưng liên quan đến nhiều sự kiện và nhân vật lịch sử được viết trong Từ điển Thái Bình. Có thể xem đó là những mục từ bổ trợ, tham khảo khi cần hiểu biết rõ hơn nội dung những mục từ đã đọc. Thí dụ:
- Về thuật ngữ: Làng xã, Bản xã công điền công thổ, Lương điền, Làng chiến đấu, Ba thứ quân, Trận chiến đấu, Thương binh, Liệt sĩ …
- Học hàm, Học vị: Tiến sĩ thời phong kiến, Tiến sĩ thời nay …
- Chức quan thời phong kiến, thực dân:  Công sứ, Tổng đốc, Bố chính, Án sát, Đề đốc, Tri huyện, Tri phủ, Đốc học, Giáo thụ, Chánh tổng, Lý trưởng…
- Đơn vị hành chính, đơn vị quân sự: Khu Tả Ngạn, Quân khu III…

II. Cách sắp xếp và tra cứu
Tên mục từ là thuật ngữ hoặc tên riêng của đối tượng được giới thiệu. Mỗi mục từ là một đơn vị tra cứu, sắp xếp theo thứ tự chữ cái như sau:
A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê, F, G, H, I, K, L, M, N, O, Ô, Ơ, P, Q, R, S, T, U, Ư, V, X, Y và theo trình tự thanh điệu: không, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng.
1. Mục từ địa danh xếp theo trật tự đảo, lấy tên riêng làm đơn vị tra cứu. Từ loại (tên chung) để ở phần giải thích nội dung.
Thí dụ: Đông Hưng (huyện), Phất Lộc (đình), Bo (chợ), Cầu Sắt (bốt).
2. Mục từ tên người; tên cơ quan, tổ chức; tên sự kiện lịch sử… xếp theo trật tự thuận phù hợp với đặc điểm ngữ pháp tiếng Việt. Tên riêng đặt sau từ loại.
Thí dụ: Ngô Duy Đông, Sở Nội vụ, Chi bộ Đảng Trình Phố, Trận Cầu Bo, Cuộc biểu tình Tiên Hưng - Duyên Hà, Vụ Quỳnh Hoa, Đắp đê Xuân Hải.
3. Cùng một địa danh, xếp thứ tự trước sau: Địa danh hành chính (tỉnh, huyện, xã...) -   địa danh văn hóa (chùa, đình...) -  địa danh quân sự (đồn...) -  địa kinh tế (cầu, cống, kè...). Thí dụ: An Bài (xã cũ) - An Bài (chùa) - An Bài (đồn Pháp) - An Bài (cống).
Địa danh hành chính:  Xếp đơn vị hành chính cũ trước đơn vị hành chính mới, xếp đơn vị lớn trước đơn vị trực thuộc. Thí dụ: An Bài (tổng) - An Bài (xã cũ) - An Bài (phường cũ), An Bài (thôn cũ) - An Bài (xã).
Địa danh văn hóa, địa danh quân sự, địa danh kinh tế: Xếp thứ tự a,b,c tên từ loại. Thí dụ: An Bài (chùa) - An Bài (đền) - An Bài (đình) -  An Bài (đồn Pháp) - An Bài (cầu) - An Bài (cống) - An Bài (đường).

III. Bảng chữ viết tắt
1.  Địa danh hành chính:
Trong câu, nếu sau từ loại là tên riêng của một đơn vị hành chính thì từ loại đó được viết tắt với chữ in thường: Ví dụ: xã Thái Phúc, được viết tắt thành x. Thái Phúc; nếu có từ hai đơn vị trở lên thì không viết tắt. Ví dụ: các xã Thái Phúc, Thái Dương, Thái Sơn hoặc:  hai huyện Tiền Hải, Kiến Xương


Từ loại    - phủ: p.    - huyện: h.

- thôn: th.    - trấn: tr.    - quận: q.       
- làng: l.    - thị trấn: ttr.    - thị xã: tx.       
- tổng: tg    - xã: x.    - thành phố : tp.       
- phân phủ: p.p.    - phường: ph.    - tỉnh: t.    

2. Tên cơ quan, tổ chức, thuật ngữ, cụm từ viết tắt hoặc lượt bớt đi một số từ:
- Ban chấp hành, Ban chấp hành Trung ương     - BCH, BCHTƯ

- Cải cách ruộng đất    - CCRĐ       
- Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam    - CHXHCNVN       
- Đảng Cộng sản Đông Dương    - ĐCSĐD       
- Đảng Cộng sản Việt Nam    - ĐCSVN       
- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh    - Đoàn TN CSHCM       
- Đông Dương Cộng sản Đảng    - ĐDCSĐ       
- Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam    - Hội LHPNVN       
- Hội Việt Nam cách mạng thanh niên    - Hội VNCMTN       
- Hợp tác xã     - HTX       
- Kháng chiến chống Mỹ    - KCCM       
- Kháng chiến chống Pháp    - KCCP       
- Lực lượng vũ trang nhân dân    - LLVTND       
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam    - MTTQVN       
- Nhà xuất bản    - Nxb       
- Quân đội nhân dân Việt Nam    - QĐNDVN       
- Thanh niên xung phong    - TNXP       
- Thể dục - Thể thao    - TDTT       
- Thế kỷ    - tk.       
- Trung học cơ sở    - THCS       
- Trung học phổ thông    - THPT       
- Ủy ban hành chính     - UBHC       
- Ủy ban kháng chiến hành chính    - UBKCHC       
- Ủy ban nhân dân    - UBND       
- Ủy ban Trung ương  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam    - UBTƯMTTQVN       
- Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp    - Viện KHKTNN       
- Viện Nghiên cứu Hán Nôm    - Viện NCHN       
- Viện Thông tin khoa học xã hội    - Viện TTKHXH       
- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa    - VNDCCH       
- Việt Nam Quốc dân Đảng    - VNQDĐ       
- Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945    - Trước 1945       
- Di tích Lịch sử    - DTLS       
- Di tích Kiến trúc nghệ thuật    - DTKTNT    

3. Học hàm, học vị

Giáo sư: GS    Phó giáo sư: PGS    Tiến sĩ khoa học: TSKH    Tiến sĩ: TS              Thạc sĩ: Ths


Từ điển Thái Bình lần đầu tiên được biên soạn và xuất bản với tâm huyết
của các thế hệ con em Thái Bình đã gắn bó với quê hương trong lao động, học tập, Kháng chiến chống Pháp, Kháng chiến chống Mỹ. Tấm lòng với quê hương thì vô hạn, nhưng hiểu biết về quê hương của chủ biên và các tác giả (hầu hết là người Thái Bình) thì có hạn.
Có một số mục từ còn sơ lược do không có đủ tài liệu, song chúng tôi vẫn mạnh dạn sử dụng với mong muốn để lưu giữ những gì đã biết, đã viết về quê hương Thái Bình và với hy vọng sẽ được bạn đọc cung cấp thêm tài liệu.
Có những địa danh, nhân vật, sự kiện lịch sử… đáng được đưa vào Từ điển Thái Bình nhưng do chủ biên và các tác giả chưa biết hoặc biết mà không có tài liệu để viết.
Rất mong được bạn đọc thông cảm, chỉ bảo cho những sai sót, trực tiếp góp ý kiến phê bình, cung cấp thêm tài liệu để nhóm biên soạn tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung khi tái bản.


Nguyễn Quang Ân

Mục lục


1    Lời mở đầu - Bùi Tiến Dũng, Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình    9

2    Lời giới thiệu - Đinh Xuân Lâm, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam    11       
3     Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình và bản đồ hành chính các huyện, thành phố - Nxb. Bản đồ    14       
4    Bản đồ giao thông tỉnh Thái Bình - Nxb. Bản đồ    32       
5­    Quy cách biên soạn - Nguyễn Quang Ân     33       
6    Mục từ - Nhiều tác giả    39       
7    Phụ lục 1: Một số thuật ngữ, chức quan, địa danh, tổ chức liên quan đến nội dung Từ điển Thái Bình - Nhiều tác giả    1097       
8    Phụ lục 2: Bà mẹ Việt Nam anh hùng tỉnh Thái Bình - Nguyễn Đức Viên    1141       
9    Phụ lục 3: Đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình - Nguyễn Quang Ân    1207       
10    Phụ lục 4: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình - Nguyễn Quang Ân    1213       
11    Phụ lục 5: Văn nghệ sĩ Thái Bình - Nguyễn Quang Ân    1227       
12    Danh sách mục từ và tác giả - Ban biên tập    1229       
13    Sách dẫn tra cứu theo chủ đề - Nguyễn Quang Ân 1283

***


A

 

1. A Côi 阿 瑰

Huyện cũ trước 1945: Lập từ thời Trần, thuộc p. Long Hưng. Thời kỳ nhà Minh cai trị (1407 - 1427), sáp nhập vào h. Đa Dực, sau h. Đa Dực lại sáp nhập vào h. Thái Bình, buổi  đầu thuộc p. Tân An, sau thuộc p. Trấn Man. Thời Lê lập lại h. A Côi, thuộc p. Thái Bình. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đời Lê Thánh Tông đổi là h. Quỳnh Côi. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) lập pp. Thái Bình gồm 2 huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực.

Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi (đầu tk. XV), Bản đồ Hồng Đức (cuối tk. XV) và Dư địa chí của Phan Huy Chú (cuối tk. XVIII), trong gần 400 năm, h. Quỳnh Côi vẫn ổn định với 42 xã 1 thôn. Từ tk. XIX - tk. XX, có biến động nhưng cũng không đáng kể. Đầu tk. XIX, h. Quỳnh Côi có 6 tổng 47 xã thôn phường; cuối tk. XIX có 6 tổng 43 xã thôn; đầu tk. XX, có 6 tổng 53 xã. Trong đó, có 6 xã: Đông Quýnh, Tân Mỹ, Hy Hà, Đông Châu, Hà Lang, Quỳnh Lang của h. Duyên Hà nhập vào năm 1893 và 2 xã Thượng Phúc, Giáo Thiện nguyên là thôn, được lập thành xã riêng năm 1902.

Xt: Tân An (phủ - 3589), Trấn Man (phủ- 4221), Thái Bình (phủ - 3671), Quỳnh Côi (huyện cũ sau 1945 - 3398), Quỳnh Phụ (huyện - 3427).

2. A Mễ 阿 米

Xã cũ đầu tk. XX thuộc tg Quỳnh Côi, h. Quỳnh Côi, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Khánh Thiện, h. Quỳnh Côi. Nay thuộc x. Quỳnh Trang, h. Quỳnh Phụ. Dân số 1290 người (1927). Địa bạ x. A Mễ : 12 tr., khai tháng 3 năm Thành Thái 12 (1900), gồm công tư điền thổ 556 mẫu; trong đó công điền 23 mẫu; tư điền 533 mẫu; công thổ 2 mẫu; tư thổ 97 mẫu… Tục lệ x. A Mễ: 34 tr., gồm 18 lệ, lập ngày 6 tháng 4 năm Minh Mệnh 6 (1825); 1 lệ, lập ngày 15 tháng Giêng năm Thiệu Trị 6 (1846); 1 lệ, lập ngày 20 tháng 8 năm Tự Đức 30 (1877); 8 lệ, không ghi ngày lập; 16 điều lệ, lập ngày 12 tháng 3 năm Duy Tân 3 (1909). Bản khai thần tích-thần sắc l. A Mễ (1938): 5 tr., thần Tân, Hiến

3. AC 5

Giống lúa thuần, thuộc loại lúa chất lượng, do Viện cây lương thực thực phẩm lai tạo, chọn lọc. Đưa vào cấy ở Thái Bình từ năm 2004. Dáng cây thấp, lá thường có màu vàng như đói ăn, rõ nhất  là lúc đứng cái, làm đòng (nắm rõ đặc tính này để thâm canh hợp lí). Lá hơi trải, khi trổ cổ bông vươn hơi nhanh đưa bông lúa vượt trên tầng lá. Là giống trung ngày, thời gian sinh trưởng từ 120 ¸ 125 ngày với vụ mùa, 135 ¸ 140 ngày với vụ xuân. Chịu thâm canh cao, chống chịu sâu bệnh khá. Cấy được cả 2 vụ, chú ý vụ mùa cấy vào chân đất vàn trung, vàn thấp; cấy vào trà mùa sớm, mùa trung bằng mạ dược; gạo trắng, rất thơm, cơm thuộc hàng đặc sản. Năng suất trung bình 55 ¸ 60 tạ/ ha. Bắt đầu đưa vào sản xuất, diện tích chưa lớn, tập trung ở h. Đông Hưng.

4. AK 06

Giống đậu tương, do Trung tâm đậu đỗ - Viện KHKTNNVN chọn tạo bằng xử lý đột biến tia gamma trên giống đậu ĐT 74, sau đó kết hợp với xử lý hoá học. Cây dạng đứng, cao trung bình 40¸60cm, độ phân cành vừa phải, bộ lá gọn, hạt vàng sáng, rồi hạt màu nâu nhạt.  Thời gian sinh trưởng: vụ hè 81¸88 ngày, vụ đông 85¸90 ngày, vụ xuân 95¸ngày. Nhiễm nhẹ bệnh đốm nâu và hở cổ rễ, chống chịu bệnh gỉ sắt từ trung bình đến khá; chịu nóng, hạn, lạnh ở mức khá; chú ý bấm ngọn lúc cây có 4-5 lá. Năng suất trung bình 17¸25 tạ/ha. Đưa vào Thái Bình gieo trồng từ năm 1990, chủ yếu ở 2 huyện Hưng Hà và Quỳnh Phụ.

5. An Ấp

Xã thuộc h. Quỳnh Phụ, thành lập ngày 29-6-1955. Gồm các thôn An ấp (l. Uốp), Cam Mỹ (l. Mia), Đông Thành, Thượng Phúc (l. ổ), Xuân Lai. Sau nhiều năm, thôn bị chia nhỏ thành các đội sản xuất, rồi các  xóm. Từ 2003, lập lại đơn vị thôn và lấy lại thôn cũ như trước 1955. Trước 1945, thuộc tg Tiên Bá, h. Quỳnh Côi. Diện tích tự nhiên 576,4 ha; dân số 5879 người (1927), gồm 1426 hộ. Thuộc vùng đất thấp hay bị ngập úng về mùa mưa. Sống chủ yếu bằng nghề nông cấy lúa. Đã trồng thêm ớt, cà chua xuất khẩu... Nghề phụ có mộc, nề, đan mây tre. Có sông đào là sông Cô, sông Diêm; chảy qua nội đồng có nhiều ngòi, dài tới 14km. Có 3 cầu liên xã và một cầu nội đồng, 10 cống nội đồng. Các công trình điện, đường, trường, trạm, nước sạch, thông tin sớm được xây dựng đáp ứng nhu cầu cơ bản hiện tại. Có đền thờ bà Chúa Uốp được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Lễ hội vào ngày 30-6 hàng năm. Có trò đánh Bệt (chưa khôi phục) ngồi võng xâu kim, chọi gà. Có 203 liệt sĩ, 69 thương binh, 11 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 205 người được thưởng Huân chương Kháng chiến.

6.  An Bài 安 排

Xã cũ tên nôm là l. Bệ. Đầu tk. XIX thuộc tg Địa Linh, h. Phụ Dực, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Cuối tk. XIX, xã này thuộc tg Dục Linh, h. Phụ Dực, p. p. Thái Bình, t. Nam Định. Đầu tk. XX vẫn thuộc tổng, huyện như trước. Trong KCCP là th. An Bài thuộc x. Thái Hòa, h. Phụ Dực. Nay là th. An Bài thuộc ttr. An Bài, h. Quỳnh Phụ. Dân số 665 người (1927). Hương ước l. An Bài (1936): 11 tr. viết tay. Bản khai thần tích-thần sắc l. An Bài Bản khai thần tích-thần sắc phường An Bài (1938): 9 tr., 25 tr. chữ Hán; 5 đạo sắc phong; 1 thần tích; thần: Đại Đô Đại Đạo, Lâu Đài Đương Đình, Thiên Quan Đương Đình. (1938): 8 tr., 25 tr. chữ Hán; 1 thần tích; thần: Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Đông Hồ Minh, Minh Điền

7. An Bài 安 排

Phường cũ , đầu tk. XIX thuộc tg Bất Nạo, h. Phụ Dực, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ. Cuối tk. XIX và đầu tk. XX không có phường này trong danh sách các phường của tg Bất Nạo.

8. An Bài  安 排

Thôn cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Cổ Quán, h. Thần Khê, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Hưng Yên, từ 1894 thuộc t. Thái Bình). Cuối tk. XIX, thôn này lệ thuộc x. Gia Cấp 家 級, vẫn tổng, huyện, phủ như trước. Từ 1947, thuộc x. Hoa Lư, h. Tiên Hưng (từ 1969 là h. Đông Hưng). Từ 2003 là thôn, diện tích 72,08 ha; dân số 855 người. Thần tích th. An Bài : 32 tr., do Nguyễn Bính soạn 1572, về sự tích Trung Thành Đại Vương, 1 trong 5 công thần (Cự Công, Hùng Công, Trường Công, Thạch Khanh Công, Quý Lân Công) thời Hùng Duệ Vương.

9. An Bài

Thị trấn thuộc h. Quỳnh Phụ. Đơn vị anh hùng LLVTND. Thành lập ngày 16-5-2005, trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của x. An Bài. X. An Bài thành lập năm 1955, gồm 4 thôn: An Bài, Đông Linh, Lý Xá, Phong Xá. Năm 2003, tổ chức lại thành 4 thôn và 2 tổ dân phố Tư Môi, Cầu Nghìn. Trước 1945 thuộc tg Địa Linh, h. Phụ Dực. Trong KCCP là x. Thái Hoà. Diện tích tự nhiên 640,8 ha; dân số 7.923 người, gồm 2505 hộ. Là đầu mối giao thông liên tỉnh, liên xã; có quốc lộ 10 chạy qua, lại nằm cạnh sông Hóa; giáp giới với Hải Phòng, rất thuận lợi cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp và thương mại.  Đang từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phát triển kinh tế toàn diện có công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Trên địa bàn thị trấn đã có một trung tâm công nghiệp, gồm một số công ty, xí nghiệp. Có 12 cầu, đặc biệt là cầu Nghìn và cầu Môi nằm trên quốc lộ 10. Có chợ Bệ.

Từ tk. XV, An Bài đã có nhiều người đỗ đại khoa. Họ Đỗ 5 đời trải 6 khoa thi, có 7 người đỗ đại khoa. Họ Nguyễn Duy ở l. Đông Linh cũng có nhiều đại khoa. Nhiều đại khoa là danh thần, tên tuổi được ghi trong sử sách, được thờ làm Phúc thần. Dưới chính thể mới, An Bài có 3 Tiến sĩ và hàng trăm Cử nhân. Trường trung học cơ sở An Bài là đơn vị Anh hùng trong thời kỳ đổi mới. An Bài hiện còn bảo tồn được 4 đình, 4 chùa, 2 đền. Đình Đông Linh được xếp hạng DTKTNT cấp nhà nước. Đình các làng An Bài, Lý Xá, Phong Xá được xếp hạng Di tích cấp tỉnh. Hàng năm các làng đều vào hội. Hội đình Đông Linh với tục thi bánh chưng, hội làng An Bài với tục thi bánh dầy và nhiều trò chơi dân gian như đua thuyền, chọi gà, cờ người, vật đánh thó, thả đèn giời.

Trong KCCP, nhân dân đã xây dựng làng kháng chiến, đào hào đắp ụ trên quốc lộ 10, dựng vật cản trên sông Hóa. Phòng tuyến chống giặc của An Bài được quân khu gọi là " Lũy thép lòng dân". Có 1065 thanh niên đã lên đường nhập ngũ; 297 liệt sĩ, 165 thương binh, 9 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 1 lão thành cách mạng, 2 người được phong quân hàm cấp tướng, 578 người được hưởng chế độ có công, 800 người được tặng thưởng Huân, Huy chương. Có 1 Nhà giáo nhân dân, 2 Nhà giáo ưu tú.

10. An Bài

Đình th. An Bài, ttr. An Bài, h. Quỳnh Phụ. Cũng gọi đình Bệ vì theo tên Nôm l. Bệ, được khởi xây đời Lê Trung hưng, bị phá trong kháng chiến chống Pháp. Cuối tk. XX từng bước phục hồi (trên nền cũ). Năm 1993, cơ bản hoàn thành. Bố cục chữ "đinh". Bái đình 3 gian. Tòa hậu cung 2 gian.

Đình thờ 3 vị Thành hoàng là Đào Hùng, Đào Dũng, Đào Lược là 3 con trai cụ Đào Kiệt và bà Nguyễn Thị úc, quê gốc l. Lưu Xá, h. Thượng Hiền, p. Nghĩa Hưng (nay thuộc t. Nam Định). Đình còn phối thờ 3  Tiến sĩ  là Hoàng giáp Đỗ Duệ; TS. Đỗ Toại (con cụ Đỗ Duệ); Hoàng giáp Đỗ Cảnh (con trai Đỗ Toại), được triều Lê Trung hưng sắc phong làm Phúc thần x. An Bài. Được xếp hạng DTLS cấp tỉnh (2005).

11. An Bái 安 沛

Tổng đầu tk. XIX thuộc h. Thụy Anh, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Có 7 xã: An Bái, Quỳnh Lý, Vân Am, Kha Lý, Thọ Cách, Đăng Trường, Tu Trình. Cuối tk. XIX, tg An Bái vẫn có 7 xã và thuộc huyện, phủ như trước. Đầu tk. XX, x. Đăng Trường đổi là Vân Tràng; thêm x. Trình Trại (trước là một trại của x. Tu Trình). Sau 1945, bỏ cấp tổng,  các xã cũ: Kha Lý, Quỳnh Lý, Thọ Cách, Vân Am lập thành x. An Thọ thuộc h. Thụy Anh; Tu Trình thuộc x. Hùng Tiến; Trình Trại thuộc x. Thụy Hải; Vân Tràng thuộc x. Tràng An.

12. An Bái 安 拜

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg An Bái, h. Thụy Anh, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Cuối tk. XIX, xã này vẫn thuộc tổng, huyện, phủ như trước. Đầu tk. XX có các thôn: Đông, Đoài, Hoa, Quận, Kiện. Sau 1945, là thôn thuộc x. An Thọ (từ 1955 là x. Thụy Quỳnh). Năm 1927 x. An Bái có 1.267 người. Nay là đất các thôn: Hoa Quận (88,63 ha; 1.012 người), Đông Đoài (83 ha; 1.002 người), Bái Kiện (94,58 ha; 1.062 người) thuộc x. Thụy Quỳnh, h. Thái Thụy. Thần tích x. An Bái :  14 tr., sự tích 2 vị nữ thần là Gia Nương, Chung Nương; và 2 vị nam thần là Lôi Công (Linh Lôi Đại Vương), Trí Công (Thần Trí Đại Vương) thời Hùng Duệ Vương. Hương ước x. An Bái (...): 12 tr. viết tay.

13. An Bái

Cầu trên tỉnh lộ 39B, km 47 + 541, vượt sông An Bái, địa phận x. Thụy Quỳnh, h. Thái Thuỵ. Xây dựng năm 1930, sửa chữa lại nhiều lần, năm 1985 xây mới, bằng bê tông cốt thép; dài 1 nhịp 7m; rộng 4 m; tải trọng H8.

14. An Bái

Đình th. Đoài, x. Thụy Quỳnh, h. Thái Thụy. Từ xưa, An Bái đã là lỵ sở h. Thụy Anh, đất rộng, dân đông, chia thành 5 thôn: Kiện, Đoài, Đông, Hoa, Quận, mỗi thôn có 1 đình riêng. Đình Đoài xây năm Thành Thái thứ 2 (1890), tôn tạo năm Duy Tân thứ 8 (1914), khi ấy là đình lớn hàng huyện, gồm tòa bái đình 5 gian, hậu cung 3 gian. Lại có 6 gian tả, hữu vu, có hoành mã, tắc môn, xứng đáng đình hàng tổng. Nửa cuối tk. XX, do đình xuống cấp, phải hạ giải bái đình. Năm 1998, khôi phục lại hậu cung cũ (làm năm 1890) và dựng thêm 3 gian tiền tế. Thờ Trí Công Đại Vương, tướng của Hùng Duệ Vương. Được xếp hạng DTKTNT cấp tỉnh (2003).

15. An Bình  安 平

Xã cũ đầu tk. XX thuộc tg An Lạc, p. Tiên Hưng, t. Thái Bình. Nay là th. An Bình, x. Lô Giang, h. Đông Hưng. Dân số  417 người (1927). Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 3 tr., 3 tr. chữ Hán; 3 đạo sắc phong, thần Độc Nhị. Hương ước x. An Bình (1936): 8 tr. viết tay.

16. An  Bình

X· thuộc h. Kiến X­ương, nằm ở phía bắc huyện, c¸ch ttr. Thanh Nê 10km về phía bắc. Thành lập năm 1956, gồm 3 thôn: An Trạch, Bồng Trạch, Bình Trật (trong kháng chiến là x. Quốc Tuấn). Năm 2003, x. An Bình tổ chức  lại thành 4 thôn: An Trạch, Bằng Trạch, Bình Trật Bắc, Bình Trật Nam. Trước cách mạng 8-1945 thuộc tg Thụy Lũng, p. Kiến Xương. Diện tích tự nhiên 511,3ha; dân số 4289 người, gồm 1163 hộ.

Địa thế thấp trũng, nằm sát đê sông Trà Lý. Sống chủ yếu bằng nghề nông. Sản xuất nông nghiệp khó khăn vì chất đất kém màu mỡ, thường bị ngập úng về vụ mùa. Có một số hộ làm nghề đan mây tre. Xã còn bảo tồn được 2 đình, 3 chùa. Đình Bình Trật được xếp hạng DTKTNT cấp nhà nước. Hai lễ hội được tổ chức ở 2 làng Bình Trật, An Trạch. Xã có 157 liệt sĩ, 67 thương binh, 3 lão thành cách mạng, 3 Bà mẹ Việt Nam anh hùng,  326 người được tặng Huân chương Kháng chiến.

17. An Bồi 安 培

Tổng đầu tk. XIX thuộc h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ; có  9 xã, phường: An Bồi, Thanh Nê, Trình Phố, Diêm Điền (sau đổi thành Thư Điền), Thao Bồi (có sách chép là Công Bồi), Hoa Cước (từ 1841, kiêng húy, đổi là Xuân Cước) và các phường An Bồi, Thao Bồi, Thanh Nê. Cuối tk. XIX có 6 xã,  không có các phường kể trên

18. An Bồi 安 培

Phường cũ đầu tk. XIX thuộc tg An Bồi, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ. Cuối tk. XIX và đầu tk. XX không có phường này trong danh sách các đơn vị thuộc tg An Bồi.

19. An Bồi 安 培

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg An Bồi, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Cuối tk. XIX vẫn thuộc tổng, huyện, phủ như trước.  Sau 1945, là một trong 2 thôn thuộc x. Tán Thuật, h. Kiến Xương. Từ 1955, x. Tán Thuật chia làm 2 xã Tán Thuật và An Bồi. Nay là x. An Bồi thuộc h. Kiến Xương. Dân số 2082 người (1927). Địa bạ x. An Bồi : 36 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 841 mẫu 8 sào 10 thước 9 tấc; trong đó công điền 42 mẫu 7 sào; tư điền 691 mẫu 6 sào 5 thước 3 tấc; thổ trạch viên trì, thần từ Phật tự 97 mẫu 5 sào 6 tấc… Thần tích x. An Bồi 14 tr., về sự tích Nhà Nương (Cao Thiên Hoàng Bà... Đại Vương), thời Trưng Vương, do Nguyễn Hiền sao năm 1739. Phụ chép thần tích khu Đoàn Duyệt, thờ vị thần người x. Hạ Bì, h. Gia Lộc, t. Hải Dương. Tục lệ x. An Bồi 38 tr., gồm 9 lệ lập ngày 18 tháng 7 năm Minh Mệnh 3 (1822); 1 bản tường trình các điều ước của xã về khuyến học, khuyến nông, khuyến công, buôn bán, hôn thú, tang lễ... để quan phủ phê duyệt cho thi hành, viết ngày 10 tháng 12 năm Duy Tân 4 (1910).

20. An Bồi

Xã thuộc h. Kiến Xương. Đơn vị Anh hùng LLVTND chống Pháp. Có quốc lộ 39B đi qua, cách ttr. Thanh Nê 4km. Thành lập năm 1956, là đất x. An Bồi cũ. Chia làm 3 thôn: I (còn gọi là Tân Hưng), II và III. Năm 2003, tổ chức lại thành 4 thôn: Tân Hưng, An Đông, An Phú, An Đoài. Trước 1945 thuộc tg An Bồi, p. Kiến Xương. Trong KCCP thuộc x. Tán Thuật, h. Kiến Xương. Diện tích tự nhiên  4km 2 ; dân số 3930 người, gồm 1.078 hộ, sống chủ yếu bằng nghề nông. Có vùng đất cao thuận lợi cho trồng cây rau màu. Từ thời phong kiến có người thi đỗ cử nhân. Có đình đá thờ Cao Thị Nhự, tướng của Hai Bà Trưng; từ đường họ Trần là Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Có 2 chùa với hơn 1300 phật tử. Hàng năm có hội yến lão vào mùa xuân. Trong KCCP, hưởng ứng Tuần lễ vàng, x. An Bồi đã quyên góp dược 15 đôi hoa tai vàng, 5kg bạc, gần 200 kg kim loại để rèn vũ khí, 10 tấn gạo. Cả xã đã đào được 6 km hào giao thông, 632 hầm bí mật, xây dựng 2 trung đội dân quân tập trung, vũ khí chủ yếu là dao, kiếm, mã tấu, đã đánh 614 trận lớn nhỏ, 74 lần diệt phá tề. 113 thanh niên đã nhập ngũ (có 4 người Nam tiến). Trong KCCM, có 738 thanh niên vào bộ đội, góp 11. 500 tấn lương thực, 1230 tấn thực phẩm. Có 168 liệt sĩ, 61 thương binh, 5 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 8 Gia đình có công với nước, 6 Lão thành cách mạng, 850 người được thưởng Huân, Huy chương các loại.

21. An Bồi

Cầu trên tỉnh lộ 39B, km 16 + 142, vượt sông Bùi địa phận x. An Bồi, h. Kiến Xương. Xây 1930, là cầu tạm, nhỏ bé; sửa chữa nhiều lần, 1978 làm mới bằng bê tông cốt thép; dài 3 nhịp 19,58m; rộng 9,5m; tải trọng H13 - XB 60.

22. An Bồi

Núi đất x. An Bồi, h. Kiến Xương. Truyền thuyết kể: Thuở  trời đất phôi thai, khi sông núi  hình thành mới hay tạo hóa còn sai sót: Cõi Nam Giao chỉ có 2 trụ đỡ chống trời, núi Yên Tử quá cao, núi Yên Phụ đúng theo phép tắc, còn cõi Nam thiếu núi để tạo thành thế chân vạc đỡ trời, liền sai thiên lôi đánh xẻ đôi núi Yên Tử cho thấp xuống, sai thiên quan thần tướng xuống đất Chân Định, lệnh trong đêm phải đắp xong đỉnh núi cao bằng núi Yên Phụ (Hải Dương). Thiên quan thần tướng vâng lời, đùng đùng đắp núi, động tới huyệt địa của thần Gà vàng ở l. Kim Kê (nay là th. Bích Kê, x. Quốc Tuấn, h. Kiến Xương). Gà vàng sợ mất phép thiêng, vừa quá nửa đêm đã gáy liên hồi. Người nhà trời tưởng sắp sáng, sợ lộ thiên cơ, núi mới cao vài trượng đã bỏ đi… Vì thế núi đất An Bồi thấp hơn núi Yên Phụ. Nay núi không còn.

23. An Cầu 安 梂

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Hồng Vũ (từ 1848 kiêng húy, đổi thành Hiệu Vũ), h. Hưng Nhân, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ. Cuối tk. XIX xã này thuộc t. Hưng Yên. Từ 1894 thuộc t. Thái Bình. Dân số 390 người (1927). Trong KCCP thuộc x. Cộng Hòa, h. Hưng Nhân. Nay thuộc x. Cộng Hòa, h. Hưng Hà. Tục lệ x. An Cầu 16 tr., gồm 8 lệ, lập ngày 1 tháng 11 năm Tự Đức 16 (1683); 17 khoản, sao ngày 11 tháng 2 nhuận năm Duy Tân 3 (1909). Được sao lại ngày 3 tháng 6 năm Duy Tân 9 (1915).

24. An Cầu

Xã thuộc h. Quỳnh Phụ, nằm ở phía bắc huyện , cách ttr. Quỳnh Côi 10 km về phía bắc theo đường 216. Thành lập năm 1955, gồm 3 thôn: Lương Cầu (còn có tên Cao Nội), Tư Cương (l. Gang), Trung Châu (l. Nụ). Năm 2003, tổ chức lại thành 4 thôn, các th. Lương Cầu, Tư Cương không thay đổi tên gọi, địa giới, th. Trung Châu chia làm 2 thôn Trung Châu Đông và th. Trung Châu Tây. Trước 8-1945, thuộc tg Lương Xá, h. Phụ Dực. Trong KCCP là x. Mỹ Xá.

Diện tích tự nhiên 465 ha; dân số 5325 người, gồm 1455 hộ (có 27 hộ với 105 người theo đạo Thiên chúa). Sống chính bằng nghề nông. Nghề thủ công có dệt chiếu cói, mây tre, thêu ren. Là một xã duyên giang, nằm cạnh sông Hóa (chảy qua địa phận của xã 1,5 km) và sông Diêm ở nội đồng dài 3 km. Đất đai An Cầu màu mỡ, môi trường trong sạch. Mỗi làng ở x. An Cầu còn một đình, một chùa. Toàn xã có 116 liệt sĩ, 56 thương binh, 2 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 500 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại. Có Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới Đào Công Chứng.

25. An Chân 安 真

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Động Hối, h. Thanh Quan, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ. Cuối tk. XIX thuộc tg Đồng Hải, h. Thanh Quan, p. Thái Bình, t. Nam Định. Từ 1894, kiêng chữ "Chân", đổi ra An Trực.

Xem: An Trực (xã cũ - 115).

26. An Chân 安 真

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Đồng Chân, h. Quỳnh Côi, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ. Từ 1894, kiêng chữ "Chân" (ưng Chân, tên húy vua Dục Đức), tg Đồng Chân đổi ra tg Đồng Trực; x. An Chân đổi  ra An Trực. Trong KCCP thuộc x. Hoàng Hải, h. Quỳnh Côi. Nay thuộc x. Quỳnh Hoàng, h. Quỳnh Phụ. Dân số 873 người (1927). Địa bạ x. An Trực: 10 tr., khai ngày 20 tháng 2 năm Thành Thái 12 (1900), gồm công tư điền thổ 280 mẫu; trong đó công điền 25 mẫu; tư điền 104 mẫu; công châu thổ 20 mẫu. Thần sắc x.  An Trực: 5 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (2 đạo). Phong cho Đức Thánh An Quốc... Đại Vương. Thần tích x. An Trực: 16 tr., về sự tích Thống Công (Đức Thánh... Đại Vương) và Phái Công (Phụng Thiên... Đại Vương) thời Hùng Duệ Vương. Tục lệ x. An Trực: 10 tr., gồm 9 lệ của thôn Hoàng Xá 黃 舍, lập ngày 10 tháng 3 năm Khải Định 4 (1919); 9 lệ của thôn An Lão 安 老 , lập ngày 10 tháng 3 năm Khải Định 4 (1919). Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 8 tr.; thần: Cao Sơn, Thông Công, Phái Công.

27. An Chân 安 真

Phường cũ đầu tk. XIX thuộc tg Đồng Chân,  h. Quỳnh Côi, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ. Cuối tk. XIX không có tên  ph. An Chân thuộc tg Đồng Chân.

28. An Châu

Xã thuộc h. Đông Hưng, nằm ở phía bắc huyện, ven đường 216, cách ttr. Đông Hưng 7 km. Thành lập năm 1955, gồm 2 thôn An Nạp (l. Dô), Kim Châu (l. Sàng). Trước 1945 thuộc tg An Lạc, p. Tiên Hưng. Trong KCCP thuộc x. Mê Linh. Năm 2003, tổ chức lại thành 3 thôn. Th. An Nạp trở lại như cũ, th. Kim Châu chia ra Kim Châu 1, Kim Châu 2. Diện tích tự nhiên 379,5 ha; dân số 5261 người, gồm 1433 hộ. Là vùng cao, đất cát pha, qua nhiều năm cải tạo và làm thủy lợi, đất đai màu mỡ hơn. Là một xã thuần nông, có nghề phụ đan mây tre, dệt thảm, thêu, mộc…

Hiện còn 3 đình (đình Dô, đình Sàng và đình Trại), 3 chùa (Kim Liên tự, chùa Mới của l. Dô và chùa Sàng). Có 2 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 111 liệt sĩ, 53 thương binh. Được tặng thưởng 400 Huân, Huy chương các loại.

29. An Chỉ  安 址

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Thụy Lũng, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Thụy Lũng, h. Kiến Xương, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Bình Nguyên, h. Kiến Xương. Nay thuộc x. Bình Nguyên, h. Kiến Xương. Dân số 987 người (1927). Địa bạ x. An chỉ: 12 tr., khai tháng 4 năm Thành Thái 7 (1895), gồm công tư điền thổ 266 mẫu 3 sào 1 thước 7 tấc 2 phân; trong đó công điền 125 mẫu 9 sào 4 thước 8 tấc 8 phân; tư điền 77 mẫu 3 thước 3 tấc; thần điền 5 mẫu… Thần tích x. An Chỉ : 22 tr., về sự tích Thiên Quan Cửa Chùa Tế Đại Vương; Thiên Quan Cửa Chùa áng Đại Vương; Thạch Thần Linh ứng Đại Vương; Linh Lang Chủ Sớ Đại Vương; Thanh Kiền Đại Vương; Lã Trục Đại Vương; và Cao Thiên Hoàng Bà Đại Vương thời Hùng Duệ Vương. Tục lệ x. An Chỉ : 22 tr., gồm 35 lệ lập ngày 19 tháng 5 năm Tự Đức 21 (1868). Hương ước x. Nghĩa Chỉ (1942):  29 tr. viết tay.

30. An Chỉ 安 址

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Hổ Đội, h. Thụy Anh, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ. Để tránh sự nhầm lẫn do trùng tên, Quyết định số 23 ngày 9-3-1895 của Kinh lược Bắc Kỳ, đổi là x. Nghĩa Chỉ. Trong KCCP thuộc x. Hồng Châu, h. Thụy Anh. Nay thuộc x. Thụy Hà, h. Thái Thụy. Dân số 732 người (1927).

31. An Chính  安 政

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Lạc Đạo, h. Vũ Tiên,  p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ. Đầu tk. XX thuộc tg Lạc Đạo, h. Vũ Tiên, t. Thái Bình. Dân số 1.305 người (1927). Nay thuộc ph. Quang Trung, tp. Thái Bình.

32. An Cố 安 固

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Quảng Nạp, h. Thụy Anh,  p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Quảng Nạp, h. Thụy Anh, t. Thái Bình. Dân số 3.644 người (1927). Trong KCCP thuộc x. Dũng Tiến, h. Thụy Anh. Nay thuộc x. Thụy An, h. Thái Thụy.

33. An Cố

Chùa tên chữ là Sùng Phúc tự, thuộc x. Thụy An, h. Thái Thụy; tương truyền do Lý Thiên Bảo dựng ở đầu l. An Cố từ đầu tk. VI. Xưa An Cố có chùa Sùng Phúc bé nhỏ, chùa Am Mạc là của lão nhiêu, họ Nguyễn, tu tại gia, trước khi viên tịch di chúc tặng chùa cho làng. Khoảng đời Hoàng Định (1600 - 1619), tín đồ đưa chùa về dựng trên đất chùa Sùng Phúc. Năm Kỷ Mùi, niên hiệu Vĩnh Tộ (1619), cho khắc bia ghi sự tích. Năm Bảo Thái thứ 4, đúc chuông đồng. Khoảng đầu triều Nguyễn, được đại tu và nay giữ nguyên trạng.

Tam quan (kiêm vị trí gác chuông) 3 tầng, chồng diêm. Chùa bố cục chữ "đinh", trái xây hồi văn năm đấu. Tòa ông Hộ 5 gian. Điện phật 3 gian.

34. An Cố

Đình th. An Cố, x. Thụy An, h. Thái Thụy. Dưới triều Lê Tương Dực (1509 - 1516), Cửa trùng đài xây dở dang thì bị Nguyễn Hoằng Dụ phá. Bấy giờ có Lỵ quốc công, TS. Nguyễn Thế Ân, quê gốc làng, con nuôi họ Nguyễn l. Mộ Trạch, h. Đường An (Hải Dương), xin vua Mạc ban cho ngôi điện còn đang thi công, chưa lắp dựng đem chia cho l. An Cố 2 vì gian trung tâm, 2 vì hồi; chia cho dân Mộ Trạch 4 vì còn lại. Dân An Cố gia công thêm 4 vì kèo gian cạnh để xây tòa tiền tế, lại làm thêm 3 gian hậu cung... Tương truyền, đình khánh thành vào niên hiệu Minh Đức (1530 - 1540). Sang đời Lê Chính Hòa, năm Qúy Hợi (1683), được đại tu. Ngôi đình hiện tại vẫn giữ nguyên phong cách ấy. Năm Thành Thái thứ 8 (1896), xây thêm 5 gian tả vu, 5 gian hữu vu (công trình này bị hạ giải vào đầu thập kỷ 70, tk. XX).

Đình hướng tây, tọa lạc trên khuôn viên rộng 2.000m 2 . Tòa tiền tế 7 gian. Hậu cung đình 3 gian. Thờ Thành hoàng Phạm Hải. Trước 1975, được liệt vào một trong 18 di tích do Nhà nước bao cấp tu bổ, tôn tạo. Được xếp hạng DTKTNT cấp quốc gia (1962)

35. An Cơ 安 基

Xã cũ vốn là x. An Xá, để tránh sự nhầm lẫn do trùng tên, Quyết định số 23 ngày 9-3-1895 của Kinh lược Bắc Kỳ, đổi thành x. An Cơ. Đầu tk. XX thuộc tg Thụy Lũng, p. Kiến Xương, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Quang Lịch, h. Kiến Xương. Nay thuộc x. Thanh Tân, h. Kiến Xương. Dân số 2.622 người (1927). Địa bạ x. An Cơ: 12 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 658 mẫu 9 sào 14 thước; trong đó công điền 557 mẫu 3 sào 14 thước; thổ trạch viên trì 100 mẫu 6 sào. Tục lệ x. An Cơ : 6tr., gồm 6 điều không ghi ngày lập. Hương ước x. An Cơ (1936): 17 tr. viết tay.

Xt: An Xá (xã cũ - 132)

36. An Cúc 安 菊

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Cao Dương, h. Thụy Anh, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Cao Dương, h. Thụy Anh, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Việt Hưng, h. Thụy Anh. Nay thuộc x. Thụy Việt, h. Thái Thụy. Dân số 1.076 người (1927).

37. An Cư  安 居

Xã cũ cuối tk. XIX là trại thuộc tg Tân Hưng, h. Tiền Hải, p. Kiến Xương, t. Nam Định. Đầu tk. XX là xã thuộc tg Tân Hưng, h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Tân Hưng. Nay thuộc x. Đông Trung, h. Tiền Hải. Dân số 458  người (1927). Bản khai thần tích-thần sắc th. Tây, th. Đông (1938): 31 tr., 4 tr. chữ Hán; 1 thần tích; thần Thổ Lệnh. Hương ước x. An Cư (1936): 11 tr. viết tay.

38. An Cư

Đình x. Đông Trung, h. Tiền Hải. Tên An Cư  đình có xuất xứ từ An Cư trại (cũng đọc là Yên Cư) do nguyên mộ Lương Tú, quê l. An Thái, dẫn các tòng mộ theo Nguyễn Công Trứ xuống khẩn hoang bãi Tiền Châu, lập nên. Đời Minh Mạng, đình có 3 gian, lợp cói. Năm Thành Thái thứ 2 (1890), xây gạch, gồm 5 tòa, 15 gian, trước xây tường hoa trụ biểu, hai bên xây nhà tả vu, mỗi tòa 3 gian. Bố cục kiểu tiền nhất, hậu đinh. Tòa đại bái 5 gian (nay không còn). Trung đình 3 gian. Hậu cung 1 gian.

Đình thờ Bạch Hạc tam giang thông thánh Đại Vương. Được xếp hạng DTLS cấp tỉnh (1995).

39. An Dân 安 民

Xã cũ đầu tk. XX thuộc tg An Tiêm, h. Đông Quan, t. Thái Bình. Vốn là x. An Xá, để tránh sự nhầm lẫn do trùng tên, Quyết định số 23 ngày 9-3-1895 của Kinh lược Bắc Kỳ, đổi là x. An Dân. Trong KCCP thuộc x. Đại An, h. Thụy Anh. Nay thuộc x. Thụy Dân, h. Thái Thụy. Dân số 577 người (1927).  Địa bạ x. An Xá: 12 tr., khai tháng 7 năm Đồng Khánh 3 (1888), gồm 326 mẫu 6 sào 6 thước 9 tấc; trong đó công điền 93 mẫu 3 sào, 7 thước; tư điền 155 mẫu 7 sào 1 thước 3 tấc; thổ trạch viên trì 57 mẫu 5 sào 13 thước 6 tấc… Thờ các thần: Nam Hải Tùy Khánh, Mãnh Tướng, Thiên Quan Đại Đồng, Triệu Vương. Tục lệ x. An Dân : 26 tr., gồm 36 lệ, lập ngày 9 tháng 8 năm Tự Đức 10 (1857).  Hương ước x. An Dân (1942): 11 tr. viết tay. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 5 tr., 16 tr. chữ Hán; 8 đạo sắc phong.  Xt: An Xá (xã cũ - 131)

40. An Dục

Xã cũ đầu tk. XX thuộc tg Bất Nạo, h. Phụ Dực, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Tân Mỹ, h. Phụ Dực. Nay thuộc x. An Dục, h. Quỳnh Phụ. Dân số 1463 người (1927). Hương ước x. An Dục (1936): 13 tr. viết tay. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 7 tr., 18 tr. chữ Hán; 5 đạo sắc phong; 1 thần tích, thần: Chàng Nữu, Mai Hoa.

41. An Dục

Xã thuộc h. Quỳnh Phụ, thành lập năm 1955, gồm các thôn Lạc Cổ (l. Giắng), xa xưa còn có tên Cổ Cô; An Dục (l. Rọc) và An Mỹ (l. Mục). Trước 1945, Lạc Cổ thuộc tg Vọng Lõ;  hai thôn An Dục và An Mỹ thuộc tg Bất Nạo, h. Phụ Dực. Trong KCCP là xã Tân Mỹ. Năm 2003, tổ chức lại thành 5 thôn: Lạc Cổ, An Lạc, Bình Minh, Việt Thắng, An Mĩ. Diện tích tự nhiên 426ha; dân số 5530 người, gồm 1279 hộ. Địa hình thấp trũng nằm ven sông Cô, sông Vàng hay bị úng lụt. Có cầu qua x. An Mỹ, có chợ Rọc (An Dục). Sống bằng nghề trồng lúa và dệt chiếu cói (nghề cổ truyền).

Từ thời Lý Bí và Mai Thúc Loan, An Dục đã có người tham gia khởi nghĩa, nay được các làng thờ làm Thành hoàng. Năm 1929, An Dục có chi bộ VNQDĐ, do Nguyễn Đức Triệu (còn gọi Tú Rọc) làm Chi bộ trưởng. Chi bộ này là lực lượng nòng cốt trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở h. Phụ Dực đêm 15-2-1930. An Dục có miếu Rọc (Di tích lịch sử cấp quốc gia), đền Mụa, đền Rọc và lăng mộ phò mã Nguyễn Đức Tri. Hàng năm, có 2 lễ hội truyền thống với trò đấu roi, côn quyền... Có 130 liệt, 70 thương binh, 3 lão thành cách mạng, 6 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 850 người được tặng Huân, Huy chương các loại.

42. An Dục

Cầu trên tỉnh lộ 216, km 28 + 168, địa phận x. An Dục, h. Quỳnh Phụ. Được xây 1930, dạng cầu tạm, nhỏ bé. Mới xây lại bằng bê tông cốt thép dài 4 m, rộng 4 m, tải trọng H8.

43. An Để 安 邸

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Cự Lâm, h. Thư Trì, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Cự Lâm, h. Thư Trì, t. Thái Bình.  Trong KCCP thuộc x. Hiệp Hòa, h. Thư Trì. Nay thuộc x. Hiệp Hòa, h. Vũ Thư.  Dân số 1.799 người (1927). Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 14 tr., thần Lý Nam Đế. Tục lệ x. An Để : 12tr., gồm 20 khoán ước lập ngày 18 tháng 5 năm Đồng Khánh 1 (1886).

44. An Để

Cầu trên tỉnh lộ 223 km18 + 650, vượt ngòi An Để, địa phận x. Hiệp Hoà, h. Vũ Thư; xây 1930, dạng cầu tạm, nhỏ bé, đã tu sửa nhiều lần. Mới xây lại bằng bê tông cốt thép, dài 6,2 m, rộng 5,1 m, tải trọng  H10.

45. An Để

 

Tin mới ...
Tin cũ hơn ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 0 đánh giá

Album ảnh, Đại Hội VIII - Hội đồng hương Thái Bình CHLB Đức, Berlin 16.05.2016

Thanh niên & Sinh viên Thái bình

Hát xẩm - Hồng Tươi - Hoàng Thị Dư - Xuân Phương - Trà Giang

Tỷ giá - Thời tiết

Tỷ giá

Thông tin thời tiết

   

Back To Top