Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Từ điển Thái Bình » "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 1868-2308, H - L)

Từ điển Thái Bình

"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 1868-2308, H - L)

Ngày đăng: 31/07/2013 In trang

"Ông Nguyễn Quang Ân là nhà sử học, công tác tại Viện Sử học Việt Nam. Từ năm 1998 ông là Giám đốc Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông Ân là tác giả và đồng chủ biên tác phẩm Từ điển Thái Bình và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn sử học khác. Ông đã góp ý kiến và nhiệt tình gửi tới BBT một số tác phẩm đã xuất bản về quê hương Thái Bình để giúp BBT có tài liệu tham khảo, tuyên truyền giới thiệu tới bà con đồng hương xa nhà.
Xin quý bạn đọc lưu ý mấy điểm như sau:
1/ Về nội dung và thứ tự các mục từ hoàn toàn theo bản in ở trong nước.
2/ Về hình thức có sự thay đổi như: thứ tự số trang, phông chữ và tên mục từ không dùng chữ in hoa như bản in.

3/ Do điều kiện kỹ thuật trình bầy trên trang web không thể đưa chữ Hán Nôm và cũng không thể đưa hết các ảnh minh họa ở nhiều mục từ như sách đã in.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Quang Ân đã có tâm huyết và gửi tặng cho dhthaibinh.de bộ sách "Từ điển Thái bình" này và mong rằng bạn đọc của dhthaibinh.de sẽ hiểu hơn nữa về quê hương Thái Bình chúng ta".

Cuốn "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập gồm 4990 mục từ, 1300 trang in khổ 19x27cm do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo biên soạn; Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên; Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2010.

Chúng tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc toàn tập của cuốn từ điển qúy giá này.

***


Tiếp theo...

1868. Hội làng Lộng Khê

Hội l. Lộng Khê (l. Nhống, nay thuộc x. An Khê, h. Quỳnh Phụ) được mở từ ngày 21 tháng 3 và kéo dài đến hết ngày mồng một tháng 4 với nhiều nghi thức quốc tế thờ quốc sư Dương Không Lộ và Thái uý Lý Thường Kiệt cùng các trò chơi trò diễn đặc sắc như đốt cây đình liệu, múa kéo chữ, đặc biệt là tục múa Bát Dật hiếm thấy trong các lễ hội ở châu thổ Bắc Bộ. Bát Dật vốn là điệu múa cổ của Trung Quốc có từ thời Tây Chu. Khi sang Việt Nam, vua mới dùng múa Bát Dật, các quan đại phu tuỳ theo thứ bậc mà dùng múa lục dật, tứ dật. Múa Bát Dật trong hội l. Lộng Khê thực chất là mô phỏng đội hình múa Bài Bông ở cung đình Huế. Vốn múa Bài Bông cũng được xếp thành dật với các đội hình bát dật, lục dật, tứ dật (tám hàng, sáu hàng, bốn hàng). Bát Dật ở Lộng Khê thực chất là tứ dật vì chỉ có bốn hàng với 16 thiếu nữ múa. Khác với Bài Bông, múa Bát Dật ở Lộng Khê theo nhịp phách hát ả đào và những bài chúc tụng cổ điển ca ngợi chiến thắng, ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị và với những động tác gắn với nghề nông tang của các thôn nữ.

1869. Hội làng Phụng Công

L. Phụng Công, nay thuộc x. Quỳnh Hội, h. Quỳnh Phụ, hàng năm mở vào ngày 15 tháng 3. Có tục múa kéo chữ gắn với truyền thuyết về Bùi Đá và Hoàng Sỏi dấy nghĩa hợp binh dưới cờ Nguyễn Hữu Cầu chống triều đình Lê - Trịnh tk. XVIII.

Hàng năm, dân làng Phụng Công mở hội vào hai kỳ trung tuần tháng ba và trung tuần tháng tám tại đình làng. Ngoài nghi lễ rước tế Thành hoàng, làng tập trung nhiều công sức vào múa kéo chữ với hàng trăm trai đinh tuyển chọn từ các giáp trong làng. Đội hình múa kéo chữ được xếp thành hai bên tả hữu, mỗi bên tám thập. Mỗi bên có tám tổng cờ với các chức danh tiền nhất, tiền nhị, tiền tam, tiền tứ; hậu nhất, hậu nhị, hậu tam, hậu tứ và tối thiểu 36 quân. Hiệu lệnh gồm 4 cờ sai, 1 tù và, 1 loa, 5 trống, 1 thanh la. Tổng cờ trang phục võ quan, tay cầm cờ suý, tay phải nâng cờ, tay trái giữ đốc cờ. Cờ sai cầm cờ đuôi nheo, tay phải cầm cờ vẫy theo hình số 8 theo nhịp trống, tay trái chống vào mạng sườn. Các quân trang phục áo dài đỏ thắt lưng vàng, đầu đội nón dấu, chân quấn xà cạp, đi đất, một tay cầm khăn màu, chắp bên sườn, một tay cầm đồ chấp kích hoặc chiêng, lệnh, tù và...

Theo trình tự các lớp múa và kéo chữ phải diễn ra từ 4 đến 5 tiếng đồng hồ nên thường là diễn ra 5 lớp múa là giải lao để chuẩn bị và kéo chữ. Múa kéo chữ là điệu múa đòi hỏi đông người với tính thống nhất cao, giàu tính cộng động, cộng cảm, vừa có tính nghệ thuật cao với các động tác uyển chuyển của vũ đạo dân gian vừa mang tính thể thao thượng võ.

1870. Hội  làng Sáo Đền

Sáo Đền xưa thuộc tg. An Lão, h. Thư Trì, nay thuộc x. Song An, h. Vũ Thư. Sáo Đền là một hội lớn của tr. Sơn Nam được tổ chức trong quần thể Đốc Hổ điện thờ Quang Thục Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao và nhà thờ họ Đinh cùng với tục thi thả diều.

Hội được mở vào hạ tuần tháng 3 hàng năm. Sau 24-3, khai hội bằng đám rước kiệu của 8 thôn trong làng với những kiệu nhà Bà (bà Ngọc Giao), dân làng gọi là kiệu Mẫu cùng kiệu các ông tướng họ Đinh. Sau nghi thức tế là các trò thi bắt vịt dưới hồ, bắt chạch trong chum, kéo lửa nấu cơm thi giữa các thôn trong làng và sôi nổi hấp dẫn nhất là các cuộc thi thả diều, thi đấu vật và thi hát chèo gồm nhiều làng diều, làng vật, làng chèo đổ về tham dự.

Tục thi thả diều ở hội Sáo Đền gắn với truyền thuyết bà Ngô Thị Ngọc Giao đưa Lê Tư Thành về lánh nạn, để giải buồn bà thường cho con thi diều với trẻ trong làng. Khi hội làng, dân Sáo Đền cứ duy trì tục đó. Thuở trước, diều sáo thi ở hội Sáo Đền có đủ loại kích cỡ khác nhau. Có những loại diều lớn tới ba bốn sải tay, có loại sáo làm bằng ống luồng đại với đủ 5 loại sáo cồng, còi, gô, ghi, gộ...

Luật thi diều sáo ở hội Sáo Đền có điểm khác với thi diều ở nhiều hội làng. Thông thường các làng thi diều lên cao nhất, sáo kêu hay nhất, nhưng ở hội Sáo Đền phải tập luyện cách đâm diều chuẩn xác. Mỗi diều dự thi có hai người. Một người cầm dây và một người đâm diều. Người đâm diều đứng ở vạch chuẩn trước sân đình. Hai đầu vạch chuẩn dựng cột cao thấp khác nhau (một cột cao chừng 4 mét, một cột cao chừng 3,5m) trên 2 đầu cột buộc hai chiếc câu liêm quay mũi vào giữa vạch. Người cầm dây đứng trên gò đất cao giữa hồ. Khi có hiệu lệnh trống, người đâm diều đẩy diều lên thẳng đứng. Nếu diều mắc vào câu liêm coi như hỏng thi. Chỉ với một thao tác thế thôi nhưng để thắng cuộc là cả một quá trình khổ công luyện tập.

Tục thi vật ở hội Sáo Đền lại gắn với truyền thuyết tướng quân Đinh Lễ về làng tổ chức thi vật để tuyển quân. Các xới vật xa gần thường kéo nhau về thi kéo dài suốt trong mấy ngày hội. Riêng xới vật Sáo Đền đã có tiếng ở trấn Sơn Nam xưa và đến nay vẫn phát huy được nhiều "miếng" gia truyền.

Thi chọi gà tại Hội làng Sáo Đền

1871. Hội làng Tống Vũ

L. Tống Vũ (nay thuộc x. Vũ Chính, tp. Thái Bình) thường mở hội xuân vào ngày mồng hai Tết âm lịch, chủ yếu là chơi đu và thi nấu cơm. Trước cửa đình cây đu được dựng lên bằng ba cây luồng dài chụm phần ngọn vào làm đỉnh. Trên đỉnh cây đu một lá cờ hội lớn tung bay. Một chiếc đòn dằng ngang để treo giá đu. Ngoài chơi đu là các trò chọi gà, tổ tôm điếm, tam cúc điếm nhưng sôi nổi nhất, cuốn hút dân làng hào hứng là cuộc thi nấu cơm của các giáp trong làng. Tục thi nấu cơm trong hội xuân l. Tống Vũ có nhiều việc phải tiến hành đồng thời như giã gạo, sàng sẩy, mò trứng, bắt vịt, leo cây chuối lấy lửa, nấu cơm. Thường thì cuộc thi cử hai giáp vào tham gia. Khi có hiệu lệnh các giáp triển khai đồng bộ các công việc của cuộc thi. Trên bờ, các cối đá của các giáp có sẵn một đấu thóc, các cô gái nhanh tay giã bằng chày tay sao cho nhanh để sàng sẩy thành gạo trắng nấu cơm. Dưới hồ một chàng trai trong giáp lội xuống mò trứng. Hồ rộng, trên mặt hồ cắm hàng chục cây nêu để làm tiêu. Dưới chân hai trong số nhiều cây nêu đó thả một quả trứng. Chàng trai phải nhanh nhẹn bơi lặn mò được quả trứng, sau mới được lên bờ để leo lên cây chuối có rấm lửa, lại rất trơn và có trát bùn. Lấy được bùi rùi lửa về điểm tập kết thì phải thổi nhanh thành lửa để nấu cơm. Một niêu cơm được treo trên một chiếc đòn khênh. Hai thanh niên khênh chạy dọc theo trục đường trước cửa đình, vài người khác chạy theo đốt rạ rơm để đốt lửa nấu cơm. Khi cơm của giáp nào chín thì trình ban giám khảo bấm giờ và kiểm tra xem chất lượng cơm và trứng đã chín đến độ nào. Quả trứng hấp trên mặt nồi cơm chính là quả trứng mò từ dưới ao trong cuộc thi.

Kết quả được tính theo số điểm về thời gian, về chất lượng gạo nấu cơm, về chất lương cơm dẻo, thơm không sống, không khê, không ám khói. Điểm từng phần cộng lại sẽ thành giải cho giáp nào nấu cơm nhanh nhất, cơm có gạo trắng nhất, sạch nhất, chín rền nhất và giải từng phần.

1872. Hội làng Tuộc

Hội thi pháo đất l. Tuộc (tên chữ là Duyên Tục, thuộc tg. An Lạc, p. Tiên Hưng, nay là x. Phú Lương, h. Đông Hưng), vào tháng 3 khi làng làm lễ giỗ Mẫu hoặc tế kỳ an, bên cạnh nhiều trò diễn đua tài giải trí như diều sáo, pháo đất, rối nước, cây bông, đấu gậy, múa kiếm, hát chèo... tập trung ở 5 ngôi miếu, 2 ngôi đình và chùa làng.

Cuộc thi thường có ban trọng tài gồm ít nhất là ba người. Hai người cầm thước đo con pháo, một người tính điểm, ghi điểm. Khi con pháo văng ra đập vào đà thì đo chiều dài của con pháo, chỗ con pháo gấp khúc hoặc đứt rời ra không được tính. Nếu đoạn đứt văng ra dính trên thân pháo gọi là gạc mai thì được đo thêm chiều dài của mẹ pháo. Những trường hợp gạc mai (con ấp mẹ) là điềm may hiếm có của dài pháo. Giải cho từng người là số đo cao nhất của con pháo, giải cho dài pháo là tổng số điểm cả dài. Để có được giải cao đòi hỏi các khâu làm đất, làm pháo, người quăng phải đạt được sự thuần thục, hoàn hảo.

Trước 1945, hội làng Tuộc vào đám từ ngày 10-11, tế cá 21-11 và rước giả (dã hội) vào 22-11. Có thi thả diều, hát chèo, đốt cây bông, vật võ và sự lệ tế cá được coi là thiêng liêng nhất. Bốn ông trưởng giáp của bốn giáp trong làng phải lo mỗi người có một con cá trắm đen to, tươi sống mang tế Thánh. Trong những ngày làng vào đám, nhà nào chẳng may có người qua đời, đành âm thầm tổ chức đám ma, không được kèn trống gì.

1873. Hội làng Vũ Nghị

Hội l. Vũ Nghị (nay thuộc x. Thái Hưng, h. Thái Thụy) thường được mở từ ngày 12 đến 15-11 nhân dịp kỵ Đức Ông và làng vào đám giỗ Thánh Mẫu (Cẩm Dung Công chúa) vào 20-9. Đây là một trong những hội lớn của h. Thanh Quan. Ngoài nghi lễ rước tế thờ Thành hoàng, thờ Thánh Mẫu với nghi thức rước công đồng từ 3 ngôi đình thờ ba người con của Đức Ông họ Bùi vốn có công khai khẩn, đánh giặc mở mang Vũ Nghị, hội làng còn có nhiều trò thi mang tính thượng võ như vật cầu, vật đô, bắt vịt, leo cầu mây, đấu roi, múa lân... Đặc biệt cuốn hút là hội thi thả chim và hội trình nghề đan nong.

Hội thi thả chim câu vốn là một thú chơi tao nhã nhưng lắm công phu. Để có thể tham gia thi, xưa các giáp phải cử người nuôi chim và huấn luyện hàng năm. Mỗi giáp tham gia thi có 10 con chim bồ cầu. Vào cuộc thi, ban giám khảo vẽ một vòng tròn giữa sân đình, theo điều khiển của ông chủ khảo, từng giáp đưa chim vào thi. Cả 10 con chim được thả bay lượn thành đàn, nếu có con nào bay ra ngoài vòng tròn coi như không đạt. Chim của giáp nào lượn đẹp, bay chụm sẽ được giải. Việc khó đoạt giải cho các giáp thả chim là huấn luyện vào ngày thường vốn ít người trong không gian yên tĩnh. Khi vào thi, người đông, tiếng hò reo, tiếng chiêng, trống náo động làm chim dễ sẻ đàn.

Hội thi đan nong được xem là một hội trình nghề đan mây tre. Hiện tại ở vùng này có địa danh Quán Nong. Ngoài nghề nông, nghề đan rổ, rá, nong lia ở l. Vũ Nghị xưa khá thịnh đạt, giáp nào cũng có người đan giỏi.

1874. Hội làng Xuân La

Hội l. Xuân La (l. La hay l. Sa, nay thuộc x. Quỳnh Xá, h. Quỳnh Phụ) mở vào ngày mồng 10 tháng giêng. Ngoài nghi thức tế lễ Thành hoàng làng như nhiều hội khác, hội l. Xuân La còn duy trì các tục thi vật cầu, vật lão, vật đô.

Tục tung cầu trong hội l. Xuân La có thuyết cho rằng có từ thời Lý do hai anh em họ Đào duy trì để luyện binh chống Tống. Lại có thuyết cho rằng có từ thời Trần, gắn với việc luyện binh chống Nguyên - Mông ở vùng này. Thể thức thi đấu gần với môn bóng rổ hiện đại, đến nay hội l. Xuân La vẫn duy trì. Hiện tại, đình Xuân La còn lưu giữ được một quả cầu bằng gỗ, đường kính 35cm, nặng khoảng 5kg và một bộ cầu môn. Chỉ khi nào làng chuẩn bị vào hội mới được đưa ra tập luyện để thi đấu.

Bộ cầu môn là hai chiếc dành tre có kích cỡ bằng nhau với đường kính 30cm, cao 60cm được ốp bằng ba chiếc cọc tre, khi chôn cọc xuống đất tạo thế chân kiềng cho chiếc dành có độ cao 2,4m so với mặt đất. Sân thi đấu mỗi bên là 30x30m. Cầu thủ thi đấu mỗi bên 10 người, có người chỉ huy cầm cờ chạy biên mặc phẩm phục nhà võ đồng màu với cầu thủ. Cầu thủ cởi trần, quần cộc, thắt đai màu. Quanh sân được rào bằng dóng các cây luồng. Trước khi vào trận đấu, chỉ huy mỗi đội đưa quân vào lễ Thánh rồi ra sân chờ hiệu lệnh trống vào cuộc. Trọng tài tung cầu, hai bên giành cầu chuyền nhau đưa vào dành đối phương. Luật thi đấu có khác môn vật cầu ở các nơi là nếu cầu rơi xuống đất là phạm lỗi, trọng tài phải tung lại. Ngoài ra cũng phạt lỗi đẩy người, lỗi dùng chân cản đối phương... Với quả cầu nặng 5kg việc chuyền cho nhau là cực kỳ khó khăn, nhất là khi đưa được cầu đến trước cầu môn của đối phương, hàng phòng ngự của đối phương dũng mãnh cản phá khó để cầu lọt vào dành. Mỗi hiệp đấu thường là 15 phút. Tỉ lệ thắng thua là số lượt cầu đưa vào dành của đối phương. Sau ba hiệp đấu sẽ xếp thứ bậc để trao giải.

1875. Hội Lạng

Hội chùa Đạt Mạn (tên gọi tắt Hội Lạng), thuộc l. Lạng, nay thuộc x. Song Lãng, h. Vũ Thư. Theo lệ xưa, cứ hai năm một lần hội Lạng được tổ chức từ mồng 6 đến 12 tháng Giêng. Ngoài nghi thức rước, tế với những lễ thức cổ còn có nhiều trò đua tài, thi khéo mà đặc sắc nhất là tục thi cỗ chay hàng giáp đến nay vẫn được duy trì. Trong những ngày hội, ba đám rước được xác định là những hành động hội có tính tối linh, tối thiêng đó là:

1- Bức tranh chân dung thiền sư Đỗ Đô từ chùa Đạt Mạn về nhà hội chủ.

2- Rước kiệu Thánh Đỗ Đô đi cáo yết Thành hoàng làng là Đỗ Pháp Thuận thờ ở Cầu Vường, đình Ba.

3- Rước kiệu Thánh đi vân du quanh đền Thượng và chùa Đạt Mạn.

1876. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

tỉnh Thái Bình

Thành lập ngày 20-10-1930, qua từng thời kỳ cách mạng, có những tên gọi khác nhau: Hội phụ nữ Giải phóng (1930-1931); Hội phụ nữ Dân chủ  (1936-1939); Hội phụ nữ Phản đế (1939-1941); Đoàn phụ nữ Cứu quốc (1941-1976) và từ 16-6-1976 đến nay là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam t. Thái Bình.

Là một tổ chức chính trị-xã hội, đại diện cho quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, tham gia quản lý nhà nước; đoàn kết vận động hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trụ sở: Đường Trần Hưng Đạo, tp. Thái Bình.

1877. Hội Lơ làng Cọi

Hội Lơ l. Cọi (nay thuộc x. Vũ Hội, h. Vũ Thư) mở vào ngày mồng 3 Tết âm lịch gắn với tình tiết: Nhiều binh sĩ của Thục An Dương Vương (từng giao tranh với quân Triệu Đà trên đất này) tử vong đã hoá những cô hồn luôn gây tai ương, dịch bệnh nên hàng năm làng phải mở hội Lơ để trừ đuổi ma quỷ. Sau những cuộc đua võ, bắn cung, múa kiếm, mọi người cầm đuốc chạy theo thầy phù thuỷ vào đình cùng với một cái bồ đựng chín loại lá có gai như dứa dại, tầm xuân, bồ kết, xương rồng... đi hết các trục đường làng hô hoán, nổi trống chiêng, đốt pháo làm náo động khắp làng rồi đốt các loại lá gai rắc gio dọc đường làng để trừ ma quỷ. Sau đó là cuộc đua trải trên sông cũng trống chiêng ầm ĩ, trải nọ đuổi trải kia như diễn tập cuộc thuỷ chiến quân Thục An Dương truy kích quân của Triệu Đà.

Tục tung kén, già sát trong hội Lơ mang đậm tính phồn thực nguyên thuỷ. Người ta dùng cây dâu, cành xoan đẽo 100 cái kén giống y kén tằm, nhưng lớn gấp hai ba lần. Một số vị có uy tín trong làng tung lên, dân làng đổ xô vào cướp kén. Ai cướp được mang về cắm ra ruộng dâu, gài trên mái nhà, dắt vào né kén, nong tằm hy vọng mùa dâu tằm sẽ thu hoạch cao.

Tục thi trình nghề dệt vải của 6 giáp l. Cọi được tổ chức ngay trên mặt hồ trước cửa đình. Các khung dệt được làm dàn đặt trên mặt hồ. Vào cuộc thi, theo mẫu quy định sẵn khi có hiệu lệnh các cô gái thoăn thoắt đưa thoi với sự cổ vũ huyên náo của cổ động viên từng giáp. Gái dệt làng Cọi vốn nổi tiếng vừa xinh vừa dòn. Dân gian còn lưu truyền câu ca: Mía ngon thì nhất làng Niềm- Trai khôn Phủ Sóc, gái mềm Cọi Khê.

1878. Hội miếu Ba Thôn

L. Quang Lang, nay thuộc x. Thụy Hải, h. Thái Thụy có tục rước nước cầu vọng vào ngày 10 tháng 7 âm lịch và thường kéo dài ba ngày. Ngày 11 là chính hội. Trước ngày khai hội, dân làng làm lễ tại đền, miếu, khất đài xin âm dương, chọn người cầm bình lấy nước. Người được chọn phải là gia đình đề huề, thạo nghề đi biển, có uy tín với dân làng. Ai được chọn vào chân này là niềm tự hào cho cả họ hàng, phe giáp; người được cử đi lấy nước phải đến ở miếu Ba Thôn, ly thân với gia đình, thành tâm thành ý với việc làm thiêng liêng mà dân làng đã uỷ thác. Từ đầu thập kỷ 90 trở lại đây, lễ hội rước nước được duy trì với quy mô lớn hơn. Khi bình nước được rước từ miếu ra có kiệu Thánh, kiệu Mẫu, có đoàn đi khoeo hộ giá, cờ biểu, bát bửu, xà mâu rợp trời. Hàng trăm thuyền gắn máy được trang hoàng lộng lẫy chở các ngư dân, diêm dân trong làng cùng khách thập phương hộ giá kiệu Thánh, kiệu Mẫu ra khơi. Đặc biệt, khi nghi thức lấy nước ở ngoài khơi đã xong, trên đường quay trở về, ngư dân Quang Lang đã trình nghề gieo ống đánh cá trên biển - sáng tạo "độc nhất vô nhị" của ngư dân vùng ven biển Thái Bình. Khi phương tiện đánh bát cá biển còn thô sơ, các vàng lưới cũng không đủ dài, đủ rộng, ngư dân Quang Lang đã sáng tạo ra hình thức gieo ống để lùa cá vào lưới bằng kinh nghiệm riêng của mình. Những ngư dân kinh tế khá giả, sắm thuyền, mua ống lập phường hội hoặc thuê người làm thành những tập đoàn. Mỗi thuyền đánh cá theo hình thức gieo ống cần có khoảng 15 đến 20 người với khoảng từ 10 đến 12 ống. ống là những cây luồng đại được cắt thành đoạn dài khoảng 8 mét, đường kính ống khoảng 25-30cm. Khi đi đánh cá, ống được xếp ở hai bên mạn thuyền, tới khoảng nước có thể triển khai thả lưới, giăng lưới xong, người gieo ống ngồi quặp hai đùi vào ống, tay cầm chiếc sào khoảng 7- 8mét, người trên thuyền đẩy ống xuống mặt nước, dùng sào đập nước khua cá, theo đội hình chữ V, các ống tiến dần khép kín vòng vây đuổi cá vào lưới. Trên chiếc ống, người ta có thể đứng, ngồi cơ động vừa khua, đập, vừa lướt ống theo sự chỉ huy thống nhất để lùa cá tập trung vào lưới.

1879. Hội nghị Ban Tỉnh ủy (4-1930)

Họp vào trung tuần tháng 4-1930 dưới sự chủ tọa của Q. Bí thư Ban Tỉnh ủy Hoàng Kỳ. Tham dự còn có Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Chí Hiền, Nguyễn Văn Ngọ, do Phân cục Nam Định tăng cường cho Thái Bình. Hội nghị quyết định phát động một cuộc đấu tranh lớn trong phạm vi toàn tỉnh đòi giải quyết một số yêu cầu cấp bách của nhân dân, phản đối những hành động đàn áp dã man của thực dân Pháp  đối với cuộc khởi nghĩa Yên Bái thông qua các hình thức treo cờ, rải truyền đơn, biểu tình kéo lên tỉnh lỵ đấu tranh trực diện với nhà chức trách.

Lực lượng chính và mũi nhọn của cuộc biểu tình là Liên chi bộ Thần Duyên (Tiên Hưng - Duyên Hà). Huyện ủy Thư Vũ có nhiệm vụ huy động quần chúng bí mật vào thị xã phối hợp. Các cơ sở Đảng và quần chúng treo cờ, rải truyền đơn hưởng ứng.

1880. Hội nghị đại biểu Việt Nam cách mạng thanh niên toàn tỉnh

Do ban Tỉnh bộ triệu tập trong 2 ngày cuối tháng 1-1929, tại l. Thuyền Quan, tg Trừng Hoài (nay thuộc x. Thái Hà, h. Thái Thụy) với sự có mặt trên 20 đại biểu đại diện cho Phủ bộ, Huyện bộ và toàn Ban Tỉnh bộ. Đồng chí Ngọc (tức Nam Hải) được Kỳ bộ VNCMTN Bắc Kỳ cử về tham gia hội nghị. Hội nghị đã tập trung bàn về việc lãnh đạo xây dựng thêm cơ sở cách mạng ở các phủ, huyện; nhấn mạnh công tác tuyên truyền và giành nhiều thời gian thảo luận chủ trương thành lập Đảng Cộng sản của Kỳ bộ Bắc Kỳ; biểu thị sự nhất trí cao với chủ trương của Kỳ bộ; cử ông Nguyễn Văn Năng đi dự Hội nghị  do Kỳ bộ triệu tập.

Kể từ khi được Kỳ bộ Bắc Kỳ công nhận là "một tổ cộng sản" để tạo bước chuẩn bị cho Đảng bộ ĐDCSĐ Thái Bình ra đời, tính đến giữa năm 1929, Tỉnh bộ VNCMTN t. Thái Bình có trên 400 hội viên, chiếm 20% số hội viên cả nước và trên 30% số hội viên ở Bắc Kỳ, sinh hoạt tại 5 Phủ bộ, Huyện bộ VNCMTN.

1881. Hội nghị Các bà mẹ gương mẫu

Khai mạc ngày 5-11-1954, làm việc trong 3 ngày.  94 bà mẹ được tuyên dương về thành tích kháng chiến và sản xuất. Mẹ Phạm Thị Tèo ở th. Trung Liệt (nay thuộc x. Thái Giang, h. Thái Thụy) hoạt động bền bỉ từ ngày Cách mạng tháng Tám. Thời kỳ địa phương tạm bị chiếm, mẹ đã xung phong vào du kích, ngày đêm canh gác bảo vệ cán bộ, bộ đội, du kích, có lần nuôi thương binh hàng tháng trong nhà, mặc dầu quân địch kiểm soát, lùng sục, khủng bố gắt gao. Khi bộ đội về giải phóng, mẹ là người thứ nhất dẫn đường bộ đội truy kích diệt địch. Mẹ được tặng Huân chương Chiến sĩ hạng nhì. Mẹ Nguyệt ở Thư Trì vận động 40 gia đình đi đòi địch phải trả hàng trăm người bị chúng bắt đi Hải Phòng và các tỉnh khác. Mẹ len lỏi vào tận các vị trí địch ở tx. Ninh Giang thả truyền đơn kêu gọi binh lính địch phản đối chiến tranh và đòi hồi hương. Mẹ Đệ là một giáo dân h. Vũ Tiên ra tận sông Hồng giải thích chính sách tự do tín ngưỡng của Chính phủ cho hàng trăm đồng bào Công giáo bị bọn phản động cưỡng ép vào Nam. Kết quả, đồng bào đã hiểu rõ âm mưu địch và trở về quê hương làm ăn. Mẹ Biên ở th. Nha Xuyên (nay thuộc x. Thái Phúc, h. Thái  Thụy) nuôi dấu chiến sĩ quân báo dưới hầm bí mật trong nhà. Con gái mẹ là du kích, bị địch bắn chết.  Địch bắt mẹ tra khảo đánh đập chết đi sống lại, mẹ vẫn một mực không khai. Mẹ Ân làm liên lạc ở đường số 10. Mặc dầu địch lùng bắt và khủng bố ráo riết khắp nơi, vẫn cố gắng xây dựng cơ sở, giữ vững đường giao thông cho kháng chiến.

1882. Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình (10-1945)

Sau khi khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở thị xã và các phủ, huyện (8-1945), Tỉnh ủy lâm thời quyết định triệu tập hội nghị BCH vào cuối tháng 10-1945. Về dự có đầy đủ các ủy viên BCH Tỉnh ủy lâm thời và đại biểu các phủ, huyện, các đơn vị quân sự, thanh niên, phụ nữ. Hội nghị do Nguyễn Đức Tâm, Bí thư Tỉnh ủy lâm thời chủ trì; Lê Liêm, Xứ ủy viên Bắc Kỳ đến dự và chỉ đạo hội nghị. Về phương hướng, Hội nghị đề ra một số nhiệm vụ:

1/ Tiếp tục tổ chức các cuộc biểu tình, tuần hành để biểu dương lực lượng của quần chúng nhân dân chào mừng thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa; động viên tinh thần phấn khởi, hăng hái cách mạng của quần chúng.

2/ Đẩy mạnh việc củng cố chính quyền cách mạng các cấp, các đoàn thể quần chúng, các cơ sở Đảng; mở rộng mặt trận Việt Minh.

3/ Tập trung lực lượng để phát hiện và trừ diệt bọn việt gian phản động, bọn đầu sỏ trong tổ chức VNQDĐ; chống âm mưu khiêu khích của quân đội Tưởng Giới Thạch; củng cố và phát triển các đội tự vệ chiến đấu.

4/ Huy động tới mức cao nhất nhân tài, vật lực của toàn dân để khắc phục hậu quả nạn lụt; tích cực tham gia chiến dịch chống nạn đói trên cơ sở đẩy mạnh các hoạt động cứu trợ và coi trọng tăng gia sản xuất; hăng hái tham gia phong trào bình dân học vụ; bước đầu đẩy mạnh hoạt động xóa bỏ tàn dư xấu của xã hội cũ, tích cực tham gia cuộc vận động " xây dựng đời sống mới"

5/ Củng cố các chi bộ hiện có, đẩy mạnh việc phát triển đảng viên mới, khôi phục sinh hoạt Đảng cho các đảng viên ở tù ra và mất liên lạc thời kỳ trước cách mạng.

Hội nghị bầu BCH Đảng bộ tỉnh chính thức gồm 8 ủy viên: Nguyễn Đức Tâm (Bí thư), Ngô Duy Đông (Phó bí thư), Lương Quang Chất, Nguyễn Mạnh Hồng, Nguyễn Văn Kiểm, Đỗ Thị Hạnh, Trần Văn Thử (tức Vân Thử), Đinh Quang Chiêm.  Hội nghị này có ý nghĩa như một đại hội của Đảng bộ tỉnh.

1883. Hội nghị đại biểu Đảng bộ Thái Bình (6-1937)

Cuối 1936 đầu 1937, ở Thái Bình hình thành 3 ban lãnh đạo hoạt động ở 3 vùng: Vùng Tiền Hải - Kiến Xương có ban lãnh đạo gồm Ngô Duy Phớn, Trần Đức Thịnh, Nguyễn Vực; vùng Vũ Tiên - Thư Trì có ban lãnh đạo gồm Phạm Quang Thẩm, Trần Cung; vùng Quỳnh Côi - Phụ Dực có ban lãnh đạo do Nguyễn Mạnh Hồng tổ chức. Để thống nhất sự lãnh đạo, thống nhất hành động trong toàn tỉnh, khoảng giữa 6-1937 đã diễn ra một cuộc hội nghị tại nhà thờ họ Trần, l. Vũ Lăng, p. Kiến Xương (nay thuộc x. Vũ Lăng, h. Tiền Hải). Tới dự có đầy đủ đại biểu của 3 vùng. Trong 2 ngày làm việc, hội nghị đã nghe phổ biến nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng mùa hè 1936 về việc thành lập mặt trận dân chủ Đông Dương và chủ trương mở rộng phong trào Đông Dương Đại hội trong tất cả các tầng lớp nhân dân. Hội nghị đã thảo luận và ra nghị quyết về các vấn đề lớn:

1/ Phát động cuộc đấu tranh mạnh mẽ trong phạm vi toàn tỉnh, đòi tự do dân chủ, đòi cải thiện đời sống nhân dân.

2/ Đẩy mạnh mọi hoạt động công khai, hợp pháp.

3/ Thành lập các đoàn thể quần chúng như nông hội, thanh niên dân chủ, phụ nữ tương tế và các tổ chức quần chúng theo hình thức thấp, tiến tới thành lập mặt trận dân chủ thống nhất toàn tỉnh.

4/ Củng cố phát triển Đảng, tổ chức và huấn luyện về các chính sách của mặt trận; bồi dưỡng phương pháp công tác cho cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ ngoài Đảng.

Hội nghị bầu BCH Đảng bộ tỉnh gồm 9 ủy viên: Nguyễn Văn Vực (Bí thư), Trần Đức Thịnh, Ngô Duy Phớn, Lương Phôi, Trần Cung, Phạm Quang Thẩm, Nguyễn Mạnh Hồng, Tăng Văn Thiều, Đặng Kim Giang. Hội nghị này được coi như một đại hội đại biểu của toàn  tỉnh.

1884. Hội nghị cán bộ toàn tỉnh Thái Bình (4-1951)

Tại th. Đồng Hàn, x. Hồng Lĩnh, h. Duyên Hà (nay thuộc x. Hồng Lĩnh, h. Hưng Hà), bắt đầu từ tối ngày 11-4-1951, tiến hành trong suốt một tuần lễ, làm việc cả ngày đêm và phải hai lần di chuyển địa điểm. Hội nghị thảo luận và thông qua nghị quyết về những vấn đề lớn như:

- Nhất trí với đường lối cách mạng dân tộc dân chủ mà cương lĩnh của ĐLĐVN đề ra. Nhất trí với việc ĐLĐVN ra công khai lãnh đạo kháng chiến.

- Đảng bộ tăng cường lãnh đạo phát triển mạnh mẽ cuộc chiến tranh nhân dân. Phương châm hoạt động là "Phát triển thôn trang chiến và liên hoàn chiến, bám sát quần chúng, tranh đấu mềm dẻo. Tích cực xây dựng căn cứ địa, nắm vững nhân dân, tăng cường tổ chức chính trị, tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống dân sinh"

- Xây dựng Đảng bộ vững mạnh cả về chính trị tư tưởng và tổ chức; xây dựng củng cố các tổ chức quần chúng phù hợp với tình hình kháng chiến; rút kinh nghiệm đấu tranh hậu địch đẩy mạnh chiến tranh nhân dân.

Hội nghị bầu BCH Đảng bộ tỉnh, gồm 23 ủy viên: Trần Bình (tức Lê Tự, Bí thư), Nguyễn Xuân Quang (tức Tư Quang, Phó bí thư), Khúc Hữu Diễm, Trần Đức Hưởng, Nguyến Thanh Hồng, Vũ Công Dụng, Vũ Văn Bính, Nguyễn Xuân Hàm, Nguyễn Đức Nhu, Bùi Thọ Tư, Nguyễn Văn Lễ, Giang Đức Tuệ, Ngô Thấn, Phạm Kim Tôn, Chu Thơ (tức Trang), Nguyễn Vĩnh, Lý Anh Nghĩa, Nguyễn Văn Vỹ, Nguyễn Văn Quỳnh, Vũ Thị Chính, Nguyễn Ngọc Linh, Trần Hữu Đắc, Nguyễn Quốc Sử.

1885. Hội nghị thành lập Đảng bộ ĐDCSĐ tỉnh Thái Bình

Tiến hành vào cuối tháng 6-1929, tại nhà số 9, ngõ 1, phố  Jules Picque (nay là phố Lê Lợi, tp. Thái Bình) với sự có mặt của Tống Văn Phổ, Phạm Quang Lịch, Hà Ngọc Thiến, Lương Duyên Hồi. Đại diện Xứ ủy ĐDCSĐ Bắc Kỳ đã thông báo về tình hình phân hóa của VNCMTN từ sau Đại hội Tổng bộ lần thứ nhất và việc thành lập ĐDCSĐ. Các đại biểu đã thảo luận kỹ Tuyên ngôn, quyết định thành lập Đảng bộ ĐDCSĐTB, Ban tỉnh bộ "Thanh niên" được đổi thành BCH tỉnh Đảng bộ. Lúc này, Nguyễn Văn Năng và Bùi Hữu Diên bị địch cầm tù nên BCH tỉnh Đảng bộ Thái Bình cuối 6-1929 gồm có: Tống Văn Phổ (Bí thư), Vũ Trọng, Nguyễn Văn Tố, Quách Đình Thát, Lương Duyên Hồi. Hội nghị còn quyết định chuyển VNCMTN thành tổ chức quần chúng của Đảng bộ ĐDCSĐTB; tổ chức các chi bộ của Đảng ở tx. Thái Bình, Vũ Tiên, Thư Trì, Duyên Hà - Tiên Hưng, Tiền Hải,  Kiến Xương.

1886. Hội nghị toàn Đảng bộ Thái Bình (2-1959)

Từ ngày 13 đến 19-2-1959, tại hội trường nhà máy xay, tx. Thái Bình, có 135 đại biểu tham dự. Hội nghị xác định sự nghiệp cách mạng XHCN là một nhiệm vụ rất cơ bản về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng mà trọng tâm trước mắt là đẩy mạnh cải tạo XHCN nền kinh tế, trong đó cải tạo nông nghiệp là khâu chính. Hội nghị đã nghe và thảo luận:

- Báo cáo tổng kết 1958 do đồng chí Đào Văn Trịnh, Phó bí thư Tỉnh ủy trình bày.

- Đề án công tác 1959 do đồng chí Ngô Duy Đông, Bí thư Tỉnh ủy trình bày: nêu rõ những đặc điểm tình hình Thái Bình, những khó khăn và thuận lợi, đồng thời cũng nêu lên triển vọng của phong trào, đề ra nhiệm vụ chung và mục tiêu phấn đấu của kế hoạch 1959.

Hội nghị bầu BCH mới của Đảng bộ tỉnh gồm 29 ủy viên chính thức, 7 ủy viên dự khuyết. Ban Thường vụ gồm 9 ủy viên: Ngô Duy Đông, Nguyễn Đình Thanh, Đào Văn Trịnh, Nguyễn Ngọc Trìu, Tạ Duy Nguyễn, Nguyễn Tiến Chinh, Bùi Thọ Ty, Giang Đức Tuệ, Đặng Huy Tuân. Bí thư Tỉnh ủy: Ngô Duy Đông. Phó bí thư: Nguyễn Đình Thanh, Đào Văn Trịnh.

1887. Hội Nông dân Việt Nam  tỉnh Thái Bình

Ra đời từ năm 1930 với tên gọi Nông hội đỏ; Tương tế - ái hữu (1930-1934); Nông dân Phản đế (1941-1945); Nông dân Cứu quốc (1946-1954); Nông dân tập thể (1955-1987); Nông dân Việt Nam (1988 đến nay).

Là tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của MTTQ Việt Nam tỉnh; cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân địa phương. Có nhiệm vụ vận động, giáo dục hội viên phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt. Đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân.

Trụ sở: Ph. Quang Trung, đường Quang Trung, tp. Thái Bình.

1888. Hội Phụ nữ tương tế Thuận An

Ra đời tháng 6-1929 với 6 tổ, thu hút 60% phụ nữ trong l. Thuận An (Vũ Tiên). Đến tháng 9-1929, có tới 90% phụ nữ tham gia. Từ đầu năm 1930, mỗi hội viên đóng góp 10 cân thóc dùng làm quỹ thăm hỏi chị em khi ốm đau, sinh đẻ hoặc trợ cấp cho những hội viên nghèo túng. Một phần quỹ trên còn được chuyển cho chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng mua giấy mực, tài liệu.

Nhiều hội viên của Hội còn tham gia vào chuyển giấy tờ giữa chi bộ Đảng với Ban Tỉnh ủy; đưa đón, tổ chức, nuôi dưỡng cán bộ cấp trên qua lại; rải truyền đơn; tổ chức dệt vải, khâu nón, học chữ Quốc ngữ, tham gia các cuộc đấu tranh diễn ra trong các ngày 1-5-1930 và 4-11-1930. Năm 1932, Hội Phụ nữ tương tế Thuận An còn bí mật đón ông Phạm Quang Lịch vừa vượt ngục Hỏa Lò (Hà Nội) về chỉ đạo và củng cố phong trào hoặc tổ chức phúng tế các chiến sĩ cách mạng bị địch giết hại.

1889. Hội Văn học Nghệ thuật Tỉnh Thái bình

Có 305 hội viên, BCH 15 người, 7 chi hội chuyên ngành. Thành lập năm 1971. Đã qua 7 kỳ đại hội. Đã xuất bản khoảng 300 đầu sách, tổ chức hàng trăm cuộc triển lãm, được tặng hàng trăm giải thưởng trong các cuộc thi quốc gia, quốc tế. Trong số 45 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là người Thái Bình đang công tác ở các nơi thì có 8 hội viên đang sinh hoạt tại Hội VHNT Thái Bình. Hội có nhiệm vụ tập hợp, bồi dưỡng đào tạo và quản lý lực lượng sáng tác, biểu diễn VHNT trên lãnh thổ Thái Bình, tổ chức xuất bản, trưng bày các tác phẩm VHNT, xuất bản tạp chí Văn nghệ Thái Bình. Được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba.

Trụ sở: 26 đường Quang Trung, tp. Thái Bình.

1890. Hồng

Sông bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), phần

chảy qua Thái Bình dài 93 km, là địa giới giữa Thái Bình và Nam Định. Đây là con sông lớn nhất miền Bắc Việt Nam đem phù sa bồi đắp cho phần lớn đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Thái Bình và là đường giao thông chính của nước ta thời phong kiến. Trên cung đoạn từ ngã ba Cửa Luộc đến cửa Ba Lạt, dòng chính đã phân phối nước cho sông Luộc và sông Trà Lý, qua hệ thống 50 cống lớn nhỏ, cung cấp hầu hết nước tưới cho t. Thái Bình. Ngày nay giao thông đường bộ phát triển, nhưng từ cửa Ba Lạt vẫn có các đội tầu tải trọng từ 1.500 tấn đến 2.057 tấn thay phiên hoạt động 3 ca tải hàng về Hà Nội hoặc từ Hà Nội ra biển, đậu tại các bến Hưng Yên, Cửa Luộc, Nam Định ...

Sách Đại Nam nhất thống chí đã chép đến các bến trên địa bàn Thái Bình như: "Bổng Điền, Hương Các, Thuận Vi, Minh Giám, Trà Vi…" Đây là các địa điểm đưa đón khách qua sông và cũng là các bến đò dọc. Cửa sông đổ ra bể cũng có nhiều tên. Thời Trần gọi là cửa Bà Thắc. Thời Hồ gọi là cửa Muộn, thời Nguyễn gọi là cửa Ba Lạt. Ngày nay, cửa sông đã tiến đến gần sát cồn Vành (th. Hưng Hải, x. Nam Hưng, h. Tiền Hải) nhưng địa danh Ba Lạt vẫn được dùng để chỉ cửa sông này.

1891. Hồng An

Xã thuộc h. Hưng Hà. Đơn vị Anh hùng LLVTND trong KCCP. Cách ttr. Hưng Hà 15km về phía tây. Thành lập ngày 23-2-1977, trên cơ sở sáp nhập một số làng của x. Tân Việt với x. Hồng Hà và đổi tên thành x. Hồng An.  Có các thôn Bắc Sơn, Hùng Thắng, Việt Thắng, Nam Tiến (những thôn này nguyên xưa có tên là l. Đìa, thời Lý Trần có tên Ngự Thiên, thời Nguyễn là x. Hưng Nhân) và các thôn An Nghiệp (l. Điềm), Đồng Hoà, Đồng Trang, Gạo, Tú Mậu. L. Đìa có họ Trần Hữu, gốc từ họ Chế (Chiêm Thành), trước có trò múa phỗng. Diễn viên cởi trần, đầu chít khăn, mặc xà rông (quấn vải che phần dưới) múa lắc hông, lắc người... dân địa phương gọi là múa phỗng.

Năm 2003, tổ chức lại thành 10 thôn: Bắc Sơn, Việt Thắng, Mậu, Đồng Trang, Nam Tiến, Gạo, Hà, Điềm, Hùng Thắng, Quyết Tiến. Diện tích tự nhiên 812 ha. Dân số 8909 nhân khẩu, gồm 2243 hộ.  Là một xã duyên giang, đất đai màu mỡ do phù sa bồi đắp hàng năm. Nhân dân Hồng An sống chủ yếu bằng nghề nông. Những năm gần đây chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, cả 10 thôn đều xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm. Hiện đã có 104 ha đạt giá trị 59,5 triệu đồng. Có 207 liệt sĩ, 91 thương binh, 41 bệnh binh, có 9 lão thành cách mạng, 8 Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại xã Hồng An

1892. Hồng Châu

Xã thuộc h. Đông Hư­ng, thành lập năm 1955 gồm 2 thôn An Liêm, Quán  Xá. Trong KCCP, An Liêm thuộc x. Bạch Đằng, Quán Xá thuộc x. Hồng Việt. Năm 2003,  x. Hồng Châu tổ chức lại thành 6 thôn: An Ri, Cộng Hoà, Đoàn Kết, Hư­ng Tiến, Quyết Thắng, Văn Thụ. X. Hồng Châu cách ttr. Đông Hưng 12 km đi theo đ­ường 223 ra đường 39. Diện tích tự nhiên 373,9 ha. Dân số 4380 nhân khẩu, gồm 1175 hộ. Ngoài làm ruộng, còn làm các nghề thủ công đan mây tre, thêu, mộc... Sản phẩm chính là lúa, lợn, trâu, bò, gà, vịt. Mới du nhập nghề chăn nuôi rắn độc, trăn, kỳ đà. Có chợ Bơn họp vào ngày chẵn, xư­a làng Bơn có nghề dệt vải, vải Bơn từng nổi tiếng nh­ưng đã bỏ nghề từ thời chiến tranh chống Pháp. Đã xây dựng được hệ thống trường học, trạm xá, nhà bia liệt sĩ kiên cố;  xã và các thôn đều có sân bóng. Cả hai làng của Hồng Châu x­ưa đều có đền thờ Lý Bí, thờ Hư­ng Đạo Vư­ơng Trần Quốc Tuấn. Còn bảo tồn đư­ợc 3 đền, 3 chùa, 1 lăng, 2 bia đá, trong đó có bia khắc dựng vào năm 1509. Chùa Bơn, chùa Quán Xá là Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh, có 2 lễ hội truyền thống. Trong lễ hội có các trò chọi gà, đi cầu kiều, thả đèn trời, vật, cờ tướng. Có câu lạc bộ chèo và câu lạc bộ văn nghệ.

Hồng Châu có phong trào cách mạng từ 1930. Có 189 liệt sĩ, 47 thư­ơng binh, 9 lão thành cách mạng, 397 ngư­ời được khen thư­ởng về thành tích kháng chiến, trong đó có 8 huân ch­ương Độc lập; có 8 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 3 anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới.

1893. Hồng Châu

Làng kháng chiến chống Pháp thuộc x. Hồng Châu, h. Tiên Hưng (nay thuộc h. Đông Hưng), cách ttr. Đông Hưng 10 km về hướng tây nam. Năm 1950 làng kháng chiến được xây dựng ở 2 thôn An Liêm và Quán Xá: Xung quanh làng là hào rộng 2m, sâu 3m, phía trong là hàng dậu tre ken dày, chân dậu tre là luỹ đất cao 1,5m, chân luỹ rộng 2m, mặt luỹ dày 1m phía trong luỹ cứ 10m là 1 hầm chiến đấu. Hệ thống giao thông hào ngang dọc nối liền các vị trí chiến đấu, hầm bí mật, hầm chỉ huy, hầm cúu thương, các lối vào đường xương cá trong làng được rào chặt, chỉ để 3 cổng chính có cánh đóng chắc chắn và được canh gác 24/24 giờ. Có 3 chòi gác cao 8m được bố trí kín đáo để quan sát. Mặc dù lực lượng không cân sức nhưng quân và dân Hồng Châu đã dựa vào thế trận liên hoàn của làng kháng chiến, với lối đánh du kích chiến đấu dũng cảm kiên cường, đánh bại các đợt tiến công cấp tiểu đoàn địch giữ vững trận địa bảo vệ quê hương, điển hình là trận chiến đấu chống càn 13-11-1953.

1894. Hồng Cương 洪 崗

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Ninh Nha, h. Thụy Anh, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ. Xã này, từ năm Tự Đức thứ nhất (1848), kiêng húy chữ Hồng, đổi ra Cao Cương.

Xem: Cao Cương (xã cũ - 440))

1895. Hồng Đô 洪 都

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Thụy Lũng, h. Chân Định p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ. Xã này sau không thấy ghi trong các tài liệu về làng xã Thái Bình.

1896. Hồng Giang

Xã thuộc h. Đông Hưng, cách ttr. Đông Hưng

11km về phía tây. Thành lập năm 1955, gồm các thôn: An Lập, Lập Trại, Liêm Thôn (trong KCCP thuộc x. Bạch Đằng). Năm 2003, tổ chức thành 7 thôn: Đông Đô, Đông Thành, Long Tiên, Nam An, Tân Tiến, Tây Chí, Vạn Lập. Diện tích tự nhiên 415 ha. Dân số 5452 nhân khẩu, gồm  1531 hộ. Sống chủ yếu bằng nghề nông. Hồng Giang nằm bên sông Trà Lý, có cống qua đê lấy nước sa vào đồng, có hệ thống mương máng nội đồng tưới tiêu thuận tiện. Có 2 bến đò qua sông Trà Lý, có chợ. Có 2 nhà thờ Thiên chúa giáo ở An Lập và An Trại. Tuy là xã xa trung tâm nhưng đường liên thôn, đường trong các ngõ xóm, đường nối với đường 223 rất thuận tiện, vì vậy từ một xã yếu kém vào thập kỷ 70-80 nay Hồng Giang đã là một xã khá về nhiều mặt. Có 79 liệt sĩ, 63 thương binh, 2 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 324 người được khen thưởng về thành tích kháng chiến.

1897. Hồng Lĩnh

Xã thuộc h. Hưng Hà, ở trung tâm huyện, cách ttr. Hưng Hà 5 km. Thành lập năm 1947, gồm các thôn Mụa Đông, Mụa Đoài (xưa là l. Mụa), Chiếp Đông, Chiếp Đoài (l. Chiếp) và Đồng Hàn. Năm 1955, Mụa Đông, Mụa Đoài đổi là Vũ Đông, Vũ Đoài; Chiếp Đông, Chiếp Đoài đổi là Hợp Đông, Hợp Đoài (xuất phát từ tên chữ của làng là Hoá Hợp) và Đồng Hàn. Năm 2003, tổ chức lại thành 5 với tên gọi Hợp Đông, Hợp Đoài, Đồng Hàn, Vũ Đông, Vũ Đoài. Diện tích tự nhiên 514,4 ha. Dân số 5139 nhân khẩu, gồm 1392 hộ.

Những năm gần đây nhân dân Hồng Lĩnh đang chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Có 34 hộ làm nghề dệt khăn tay. Là quê hương của Nhà giáo nhân dân Nguyễn Ngọc Liên. Còn bảo tồn được 2 đình (Hợp Đông, Đồng Hàn), 4 chùa, l. Chiếp có 2 chùa. Có 2 Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Có 131 liệt sĩ, 21 thương binh, 42 bệnh binh, 2 lão thành cách mạng, 2 người được thưởng Huân chương Độc lập, 585 người được tặng thưởng Huân, Huy chương (2 Huân chương Độc lập), 5 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 1 Anh hùng lao động.

1898. Hồng Lý

thuộc h. Vũ Thư, cách ttr. Vũ Thư 16km về

phía tây bắc. Thành lập năm 1976, gồm 3 xã Hồng Xuân, Tam Tỉnh, Đồng Thanh. Năm 1989, lại chia Hồng Lý làm 2 xã Hồng Lý, Đồng Thanh. X. Hồng Lý còn các thôn: Thượng Hộ, Gia Lạc, Duyên Mĩ, Hội Kê, Phú Hữu. Năm 2003, tổ chức lại thành 6 thôn: Thượng Hộ Bắc, Thượng Hộ Trung, Thượng Hộ Nam, Gia Lạc, Hội Kê, Phú Mĩ (sáp nhập Phú Hữu, Phúc Hậu, Duyên Mĩ). Diện tích tự nhiên 726 ha. Dân số 7261 nhân khẩu, gồm 1844 hộ.

Hội thi thái dâu ở xã Hồng Lý

Hồng Lý là đất bồi ngoài đê sông Hồng và sông Trà Lý, hàng năm mưa lụt xẩy ra thường xuyên, nhân dân phải đào đất lập thổ, các nhà thường ở rất cao so với đường ngõ, song đất đai là đất sa bồi rất màu mỡ. Sống về nghề nông và trông dâu nuôi tằm. Hồng Lý còn có đoạn đê cụt (Hoàng Giang), do năm 1895 sông Trà được mở cửa thượng nguồn mới, sông cũ nay vẫn còn. Có đò Thượng Hộ và Hữu Bị (Nam Định), có nhiều cống qua đê. Hồng Lý tự hào là miền đất có nhiều người tài, cổng làng Thượng Hộ có câu "Thượng Hộ nhân hào". Còn bảo tồn được 4 đình, 3 đền, 5 chùa, 7 nhà thờ họ và xứ. Đình l. Thượng Hộ đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá. Hàng năm tổ chức lễ hội vào tháng 2, với các trò chọi gà, đi cầu kiều, cờ tướng, kéo co, bơi thuyền.

Tk. XIX, là địa phương có phong trào kháng Pháp mạnh ở h. Vũ Thư. Có 127 liệt sĩ, 67 thương binh, 13 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 6 gia đình có công với nước, 1 lão thành cách mạng, 814 người được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến.

1899. Hồng Lý

Kè lát mái, thuộc đê Hồng Hà II, từ km 150 + 0.00 đến km 151 + 5.00, x. Hồng Lý, h. Vũ thư. Xây dựng năm 2004, bằng đá hộc, dài 1500m, cao trình đỉnh (+ 4.50), chân (-12.50). Kè bảo vệ đoạn đê thuộc x. Hồng Lý đang bị xói lở.

1900. Hồng Minh

Xã thuộc h. Hưng Hà. Đơn vị Anh hùng LLVTND trong KCCP. Cách ttr. Hưng Hà 9km về phía tây nam. Thành lập ngày 23-2-1977, trên cơ sở sáp nhập 2 xã Minh Hồng và Hồng Phong; có các thôn: Cổ Lễ, Đồng Đào, Đồng Lâm (l. Nấm), Phù Lỗ (l. Nỏ), Phú Nha, Minh Thành, Tịnh Xuyên, Tịnh Thuỷ, Thanh Trai (Cổ Trai), Thọ Phú (l. Gạch), Xuân Lôi (Nhội), An Nang (l. Nang). Các làng này khi đó chỉ tồn tại trên danh nghĩa còn thực sự điều hành công việc là các đội sản xuất. Năm 2003, tổ chức lại thành 11 thôn: Đồng Đào, Tịnh Thuỷ, Tịnh Xuyên, Minh Thành, Minh Xuyên, Cổ Trai, Xuân Lôi, Đồng Lâm, Phú Nha, Thọ Phú, Tân Mỹ (l. Nang, Nỏ sáp nhập lại). Diện tích tự nhiên 818,91 ha. Dân số 9.678 nhân khẩu, gồm 2955 hộ. Sống chủ yếu bằng nghề nông. Hồng Minh có đường 223, có phà Tịnh Xuyên qua sông Trà Lý, có sông đào bám theo đường 223 nên thuận tiện cả thuỷ, bộ.

Từ thời phong kiến xã đã có người học giỏi, đỗ cao. Có đình Cổ Trai - Di tích lịch sử văn hoá cấp nhà nước, đình Nhội, đình Tịnh Xuyên, đền thờ các vua Trần (An Lăng) - Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Có 353 liệt sĩ, 173 thương binh, 74 bệnh binh; có 4 lão thành cách mạng, 19 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 1 cán bộ tiền khởi nghĩa, 1487 người được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến.

Đền Thâm Động (thờ các vua Trần)

1901. Hồng Phong

Xã thuộc h. Vũ Thư, ở cực Nam huyện, cách ttr. Vũ Thư 15 km theo đường liên xã. Nam và Tây được bao bọc bởi sông Hồng. Thành lập ngày 18-12-1976, trên cơ sở hợp nhất x. Vũ Hồng và x. Vũ Phong thành một xã lấy tên là Hồng Phong. Gồm 8 thôn: Kênh Đào, Nghĩa Tường, Phan Xá, Phú Nhuận, Phú Thanh, Khánh Tường, Tương Đông, Tri Phong (trong kháng chiến là x. Quang Thẩm). Năm 2003, tổ chức lại thành 9 thôn, có một số thôn thay đổi tên: Đoàn Kết, Kênh Đào, Phan Xá, Quý Cường, Mỹ Vinh, Tân Phong, Tiền Phong, Tương Đông, Nghĩa Tường.  Diện tích tự nhiên 774.6 ha. Dân số 9363 nhân khẩu, gồm  2321 hộ. Sống bằng nghề cấy lúa và trồng dâu, kéo tơ. Ngoài sông Hồng ở 2 phía của xã, còn cả một hệ thống kênh mương dài 25 km. Có 3 bến đò ngang qua sông Hồng sang h. Nam Trực (Nam Định), có 15 cống trên đê và nội đồng. Còn bảo tồn được 6 đình, 5 chùa, chùa l. Tân Tri Phong đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Có 5 lễ hội truyền thống. Có 304 liệt sĩ, 67 thương binh, có 10 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 617  người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.

1902. Hồng Phong

Đình thuộc th. Hồng Phong (xưa là l. Rồi Công), x. An Tràng, h. Quỳnh Phụ. Khởi xây khoảng triều Gia Long, đại tu đời Thiệu Trị và sửa lại đầu tk. XX, trên diện tích rộng 3.075 m 2 , gồm lầu thiên hương, tòa đại bái và cung thờ, tổng cộng 9 gian. L. Rồi Công  thời Lê ở phía hữu ngạn sông Diêm, cùng l. Hoàng Quan (x. Đông Phương, h. Đông Hưng), cùng thờ Phúc thần Nam Hải và nữ nhân Lê Thị Cố. Đầu triều Nguyễn tách làng, xây đình, vẫn thờ chung Duệ hiệu Phúc thần x. Hoàng Quan. Được xếp hạng DTLS cấp Quốc gia (1993).

1903. Hồng Phong

Kè lát mái, tại km 0+600 đến km 1+400 đê tả Trà Lý, x. Hồng Phong, h. Hưng Hà. Xây dựng năm 2004, bằng đá hộc, xếp khan mái, thả rồng và gieo đá giữ chân, chiều dài 800m, cao trình đỉnh (+4.00) và chân (-8.00) để chống xói lở chân đê khi cửa Trà Lý đang có những diễn biến phức tạp. Chất lượng ổn định.

Tin mới ...
Tin cũ hơn ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 0 đánh giá

Album ảnh, Đại Hội VIII - Hội đồng hương Thái Bình CHLB Đức, Berlin 16.05.2016

Thanh niên & Sinh viên Thái bình

Tin hội đồng hương thái bình chlb Đức

Hát xẩm - Hồng Tươi - Hoàng Thị Dư - Xuân Phương - Trà Giang

Tỷ giá - Thời tiết

Tỷ giá

Thông tin thời tiết

   

Back To Top