Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Từ điển Thái Bình » "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 2309-2695, L - N)

Từ điển Thái Bình

"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 2309-2695, L - N)

Ngày đăng: 31/07/2013 In trang

"Ông Nguyễn Quang Ân là nhà sử học, công tác tại Viện Sử học Việt Nam. Từ năm 1998 ông là Giám đốc Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông Ân là tác giả và đồng chủ biên tác phẩm Từ điển Thái Bình và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn sử học khác. Ông đã góp ý kiến và nhiệt tình gửi tới BBT một số tác phẩm đã xuất bản về quê hương Thái Bình để giúp BBT có tài liệu tham khảo, tuyên truyền giới thiệu tới bà con đồng hương xa nhà.
Xin quý bạn đọc lưu ý mấy điểm như sau:
1/ Về nội dung và thứ tự các mục từ hoàn toàn theo bản in ở trong nước.
2/ Về hình thức có sự thay đổi như: thứ tự số trang, phông chữ và tên mục từ không dùng chữ in hoa như bản in.

3/ Do điều kiện kỹ thuật trình bầy trên trang web không thể đưa chữ Hán Nôm và cũng không thể đưa hết các ảnh minh họa ở nhiều mục từ như sách đã in.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Quang Ân đã có tâm huyết và gửi tặng cho dhthaibinh.de bộ sách "Từ điển Thái bình" này và mong rằng bạn đọc của dhthaibinh.de sẽ hiểu hơn nữa về quê hương Thái Bình chúng ta".

Cuốn "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập gồm 4990 mục từ, 1300 trang in khổ 19x27cm do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo biên soạn; Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên; Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2010.

Chúng tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc toàn tập của cuốn từ điển qúy giá này.

***


Tiếp theo...


2309. Lộc Điền 祿 田

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Bổng Điền, h. Thư Trì, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Khê Kiều, h. Thư Trì, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Việt Hùng, h. Thư Trì. Nay thuộc x. Việt Hùng, h. Vũ Thư. Dân số 1.068 người (1927).   Thần sắc x. Lộc Điền : 16 tr., phong cấp vào các năm Cảnh Hưng (2 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo), Bảo Hưng (1 đạo).  Phong cho Linh Thông Hiển ứng... Đại Vương; Thái Hậu Phương Dung. Thần tích x. Lộc Điền : 12 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Hưng Công (Bố Cái Đại Vương) cùng Loan Nương (Hoàng Thái hậu), và nàng Nương (Đệ Nhị Cung phi). Tục lệ x. Lộc Điền: 42 tr., gồm 30 lệ của giáp Đông Tả 東 左 lập ngày thượng tuần tháng 9 năm Tự Đức 20 (1867); 6 điều của xã lập ngày tháng 7 năm Thành Thái 10 (1898); 15 điều lập ngày tháng 2 năm Duy Tân 3 (1909). Tất cả được sao lại ngày 27 tháng 2 năm Duy Tân 10 (1916). Hương ước x. Lộc Điền (1942): 24 tr. viết tay. Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 8 tr., 2 tr. chữ Hán; 1 danh mục đạo sắc phong; thần Bố Cái Đại Vương.

2310. Lộc Điền

Miếu th. Lộc Điền  x. Việt Hùng, h. Vũ Thư­, tọa lạc trên khuôn viên rộng 640m 2 . Theo truyền thuyết, xưa là phủ đệ của đệ nhất v­ương phi Nguyễn Thị Hồng Loan. Thời hậu Lê đư­ợc tu bổ lớn. Năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), được ban sắc phong thần. Năm Thành Thái thứ 7 (1895), thêm một lần đại tu, nay vẫn còn giữ nguyên phong cách kiến trúc cuối tk. XIX. Cấu trúc chữ "đinh". Đại bái 3 gian 2 chái. Hậu cung 3 gian. Đồ tế khí còn nhiều. Đáng quí là cỗ khám gian chạm trổ công phu, trong đặt bài vị vương phi Nguyễn Thị Hồng Loan (làm từ đời hậu Lê), một sập thờ chân quì dạ cá, 2 mâm mịch nhỏ chạm tứ linh.

Miếu thờ đệ nhất vư­ơng phi Nguyễn Thị Hồng Loan, nhan sắc lộng lẫy, con cụ Nguyễn Thành và Lê Thị Hoan, đ­ược Bố Cái Đại Vương chọn tuyển, phong Đệ nhất Phu nhân. Bố Cái Đại Vương băng hà, vương phi trở về làng thủ tiết và mất tại phủ đệ. Dân trong ấp sửa sang phủ đệ thành miếu thờ. Tư­ơng truyền ngôi miếu ngày nay vẫn giữ nguyên cố trạch họ Nguyễn. Được xếp hạng DTLS cấp tỉnh (2007).

2311. Lộc Quý 祿 貴

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Khê Cầu, h. Thư Trì, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Khê Kiều, h. Thư Trì, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Hòa Bình, h. Thư Trì. Nay thuộc x. Hòa Bình, h. Vũ Thư. Dân số 184 (1927)  Người (1927).  Tục lệ  x. Lộc Quý : 12 tr., gồm 13 lệ của giáp Nam 南 lập ngày 24 tháng 10 năm Thành Thái 7 (1895); 14 lệ của giáp Bắc 北 không ghi ngày lập. Tất cả được sao lại ngày 16 tháng 3 năm Duy Tân 10 (1916).

2312. Lộc Thọ  祿 壽

Xã cũ, đầu tk. XIX về trước là th. Vạn Thọ thuộc tg Duyên Hà, h. Duyên Hà, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ. Cuối tk. XIX đổi là th. Lộc Thọ thuộc tg Duyên Hà, h. Duyên Hà, p. Tiên Hưng, t. Hưng Yên. Đầu tk. XX được lập thành x. Lộc Thọ, thuộc tg Duyên Hà, h. Duyên Hà, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Độc Lập, h. Duyên Hà. Nay thuộc x. Độc Lập, h. Hưng Hà. Dân số 513 người (1927). Tục lệ x. Lộc Thọ: 10 tr., gồm 17 điều lệ, lập ngày 6 tháng 1 năm Tự Đức 9 (1856). Hương ước l. Lộc Thọ (1942): 12 tr. viết tay. Thần tích x. Lộc Thọ : 18 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Nhân Từ... Hoàng Thái hậu; An Quốc... Đại Vương; Tá Quốc... Đại Vương và Sát Lĩnh... Đại Vương; Phán Thủ... Đại Vương thời Đinh. Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 3tr., thần Thiềm Bà.

Xt: Vạn Thọ (xã cũ)

2313. Lộc Thọ

Miếu thuộc th. Lộc Thọ, x. Độc Lập, h. Hưng Hà.

Được xây lại vào năm Giáp Tý, đời Khải Định (1924), đến nay vẫn còn trọn vẹn như cũ, gồm 3 gian bái đường, 2 gian hậu cung cùng phong cách kiến trúc bái đường. Đồ thờ tự hiện còn 3 bức cuốn thư sơn son thếp vàng, 3 bức đại tự, 5 ban thờ, 2 cỗ khám, 3 cỗ ngai rồng, 1 bộ bát bửu và nhiều cây đèn, ống hoa…Di vật còn 1 cuốn thần tích (lạc khoản ghi: Thiếu Khanh Nguyễn Hiền sao năm Vĩnh Hựu (1736) và 3 đạo sắc phong đời Thành Thái, Duy Tân, Khải Định.

Miếu thờ Thiềm Bà Quốc mẫu và Đinh Điền, Phạm Thành, Lưu Công, Sát Công, 4 võ tướng đã hộ tống Thiềm Bà Quốc mẫu đi dẹp sứ quân Phạm Phòng át. Tương truyền, Thiềm Bà tuổi cao, bệnh trọng, lại vất vả trận mạc, mất tại trang Thụy Thú Khu (tức th. Lộc Thọ ngày nay). Kỵ lệ Thánh ngày 10-10 âm lịch. Đản sinh Thánh ngày 15-8 âm lịch, có lệ tế rước thần. Được xếp hạng DTLS cấp tỉnh (2002).

2314. Lộc Trung

Xã cũ, đầu tk. XX thuộc tg Đông Thành, h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Đông Hưng, h. Tiền Hải. Nay là th. Lộc Trung x. Nam Hưng, H. Tiền Hải. Dân số 834 người (1927). Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 12 tr., 12 tr. chữ Hán; 6 đạo sắc phong; Đương Cảnh Thành hoàng.

2315. Lộng Khê 弄 溪

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Đào Xá, h. Phụ Dực, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Đào Xá, h. Phụ Dực, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Đào Động, h. Phụ Dực. Nay thuộc x. An Khê, h. Quỳnh Phụ. Dân số 1.354 người (1927). Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 13 tr. 33 tr. chữ Hán; 7 đạo sắc phong, 1 thần tích; thần: Lý Thường Kiệt và Khổng Lồ. Hương ước x. Lộng Khê (1936): 27 tr. viết tay.

2316. Lộng Khê

Chùa th. Lộng Khê, ph. Trần Lãm, tp. Thái Bình.  Tên chữ  "Phả Quang tự". Theo nội dung cây trúc đài khắc vào năm Vĩnh Thịnh thứ 7, chùa có từ sớm, trước năm Vĩnh Trị. Năm Tự Đức thứ 6, chùa được đại tu, nay cơ bản giữ cốt cách kiến trúc cuối thể kỷ XIX, gần đây tam quan, cổng dậu, cảnh quan được sửa sang lại có phần khởi sắc hơn. Bố cục chữ "đinh". Bái đường 3 gian. Điện thờ Phật 4 gian. Tượng Phật còn 13 pho; qúy nhất là tòa Cửu Long: Trong động rồng có tượng Tất Đạt Đa, trên các áng mây đắp đủ tượng Tam Thân, A di đà, thập bát La Hán, bát bộ Kim Cương. Có bức cuốn thư nền gấp khá đẹp. Cạnh chùa có 3 gian nhà tổ, 5 gian tăng phòng, tăng xá. Tuy không phải là tự viện lớn, nhưng Phả Quang tự - chùa Cự Lộng, vẫn giữ được vẻ thuần phong, ít bị "bê tông hóa" như một số chùa trong thành phố.

2317. Lộng Khê

Đền th. Lộng Khê, x. An Khê, h. Quỳnh Phụ. Xây thời Lê, đại tu năm Bảo Đại thứ 8 (1933), nay vẫn giữ nguyên phong cách kiến trúc đầu tk. XX; xây cạnh đường liên huyện, rộng 1.125 m 2 . Tổng thể gồm 6 công trình cộng 18 gian. Tòa bái đình rộng 5 gian. Tòa trung tế và cung thờ, mỗi tòa 3 gian, bố cục kiểu chữ "đinh". Nghệ thuật điêu khắc đạt độ tinh mỹ. Trong đền còn đầy đủ các ban thờ, án thờ. Đặc biệt còn lưu được 10 bức tranh quang dầu vẽ đầu tk. XX trên vóc sơn mài, thể hiện các văn thần võ tướng.

Thờ Không Lộ thiền sư và Thái úy Lý Thượng Kiệt. Thời Lý, Quốc sư và quan Thái úy có quá vãng khi đi tuần sát nghỉ lại trang ấp, về sau được dân tôn làm Phúc thần, lập đền thờ. Các đời Lê, Nguyễn đều có sắc phong. Được xếp hạng DTKTNT cấp Quốc gia (1990).

2318. Lộng Khê

Đồn Pháp lập tại  th. An Lộng, x. An Khê, h.  Phụ Dực tháng 12-1949. Diện tích khoảng 1.800 m 2 . Quanh bốt có 3 hàng rào chắn, hàng ngoài cùng địch trồng che vây kín, 2 hàng trong bằng dây thép gai bùng nhùng. Cổng chính hướng đông nam có chòi gác cao, cổng phụ hướng bắc. Trong bốt có hệ thống hầm hào liên hoàn và 1 lô cốt xây bằng gạch bố trí các lỗ châu mai trên các hướng.

Địch có 150 tên, trong đó có 100 quân viễn chinh Pháp, do tên quan hai Pháp và tên Chí, tên Động, khét tiếng gian ác chỉ huy. Vũ khí gồm 3 súng mócchiê, 2 khẩu cối 82 li, 1 máy thông tin, 3 lượng mìn chống bộ binh, còn lại là súng trường. Bốt có nhiệm vụ chủ yếu bảo vệ tuyến giao thông đường thuỷ trên sông Luộc. Trên bộ, thì khống chế các hoạt động chi viện của ta tại 3 điểm tiếp giáp:  An Khê - Thái Bình, Ninh Giang - Hải Dương, Vĩnh Bảo - Hải Phòng). Chiều ngày  22-12-1949, dân quân du kích cùng với bộ đội Hải Kiến trung đoàn 42, đại đội Đề Thám, phối hợp với các lực lượng vũ trang Hải Phòng, Hải Dương làm công tác địch vận, tổ chức trận phục kích tại bến đò Nhống (nay là Ninh Giang), diệt 83 tên địch, bắn cháy 2 ca nô, thu 14 súng trường, 1 rađiô. Ngày 10-3-1953, địch buộc phải rút khỏi bốt.

2319. Lộng Khê

Kè lát mái, tại km 33+570 đến km 34+570 đê hữu sông Luộc, x. An Khê, h. Quỳnh Phụ. Xây dựng năm 1969, bằng đá hộc xếp khan mái, thả rồng và gieo đá giữ chân, chất lượng kém.

2320. Lợn

Tên khác: Heo. Gia súc, móng guốc chẵn, không nhai lại, thuộc chi SUS, họ lợn (Suidae). Lông thưa và thô, chân có 4 ngón, có 44 răng, có trên 10 vú, dạ dày đơn 1 túi. Lợn nái: 4 ¸ 5 tháng tuổi đã thành thục về sinh dục, chửa 112 ¸ 114 ngày, khả năng đẻ 2 ¸ 2,5 lứa/ năm, số con 1 lứa trung bình 10¸12 con. Lợn thịt: 5¸ 6 tháng tuổi có thể giết thịt. Tuỳ theo điều kiện nuôi, mức tăng trọng lượng từ 10 ¸ 20 kg/ 1tháng. 1kg tăng trọng tiêu tốn khoảng 4 ¸ 5 đơn vị thức ăn. ở Thái Bình, chăn nuôi lợn là 1 nghề truyền thống của nông dân, gia đình nào cũng chăn nuôi lợn không chỉ lấy thịt mà còn để lấy phân cho trồng trọt. Từ năm 1970 ¸ 1990 đã thay thế được hầu hết giống lợn thuần nội  bằng lợn lai kinh tế, tiếp theo từ năm 1994 đã bắt đầu thực hiện đưa giống lợn ngoại hướng nạc thay thế cho lợn lai kinh tế. Tổng đàn lợn năm 2004 là gần 1 triệu con, trong đó có 220.000 con lợn nái, bao gồm 6600 con lợn nái ngoại hướng nạc. Sản lượng thịt là 80 nghìn tấn, chiếm 84% tổng sản lượng thịt các loại. Tỉ trọng giữa chăn nuôi và trồng trọt tăng dần, năm 2004 là 32%, tốc độ tăng từ 9 ¸ 12%. Tỉnh đang tập trung thực hiện đưa chăn nuôi thành ngành chính có giá trị ngang bằng với trồng trọt; chuyển chăn nuôi từ phân tán, qui mô nhỏ sang chăn nuôi tập trung theo hình thức gia trại, trang trại. Tuy nhiên,  chăn nuôi lợn đang còn gặp nhiều khó khăn về phòng chống dịch bệnh, ô nhiễm môi trường và an toàn vệ  sinh thực phẩm.

2321. Lợn lai kinh tế

Giống lợn lai do phối từ hai hoặc nhiều giống khác nhau để lấy con lai đời 1(F 1 ) nuôi lấy thịt. Tập hợp được ưu điểm của mỗi giống, hơn hẳn năng suất của lợn mẹ, lượng thức ăn cho 1 kg tăng trọng giảm, tỉ lệ nạc cao hơn ( khoảng 45%).

Thái Bình đã thực hiện lai kinh tế từ năm 1970, bằng cách cho phối giống lợn Lanđrat hoặc Yoocsai với lợn nái Móng Cái. Đến năm 1990 đã thay  thế cơ bản (90%) đàn lợn thịt nội bằng lợn lai kinh tế làm cho chăn nuôi phát triển có thu nhập cao hơn.

2322. Lợn Móng Cái

Giống lợn nội, gốc ở Móng Cái (Quảng Ninh). Thuộc nhóm lợn hướng mỡ. Đầu đen, có đốm trắng ở trán, dáng thấp, lưng hơi võng. Có 12 ¸ 14 vú. Sớm thành thục về sinh dục, lợn cái 3 tháng tuổi đã bắt đầu động đực. Sinh sản cao, đạt từ 10 ¸ 15 con/ lứa. Khi sơ sinh nặng 0,5 ¸ 0,7 kg/ con, khi trưởng thành (8 ¸ 10 tháng tuổi) nặng 50 ¸ 60 kg. Trước đây, ở Thái Bình đàn lợn Móng Cái chủ yếu là lợn nái để lai kinh tế và sản xuất lợn sữa, làm thực phẩm xuất khẩu. Đàn lợn nái Móng Cải có gần 200.000 con, chiếm 20% tổng đàn.

2323. Lợn sữa

Hàng xuất khẩu. Lợn con mới sinh được nuôi cùng với lợn mẹ. Sữa mẹ là nguồn thức ăn chính. Lợn sữa nuôi để làm thực phẩm thường đạt 5 ¸ 6 kg trong thời gian 30 ngày từ khi đẻ. ở Thái Bình, lợn sữa là một loại thực phẩm đặc trưng, có chất lượng để xuất khẩu sang thị trường Hồng Công. Sản lượng hàng năm đạt từ 4000 ¸5000 tấn chiếm gần 60% sản lượng cả nước.

2324. Lợn Tó

Giống lợn quý hiếm của l. Tó. Theo truyền thuyết,  có xuất xứ từ sự kiện Đông Hải Đại Vương (Đoàn Thượng) vãng qua Lễ Văn trang (l. Tó, tên chữ là Lễ Văn), nay thuộc x. An Đồng, h. Quỳnh Phụ, dân mang gà, lợn, rượu ra úy lạo. Thấy lợn to, thân dài, Đại Vương khen ngợi, răn dân duy trì giống tốt. Đời nối đời chọn lọc; đến đời Lê, giống lợn Tó đã nổi tiếng khắp vùng gần xa: Thân dài, cổ ngắn, mông to, bụng phệ, lớn như thổi, có con cổ chét 4 gang tay, thân dài đến 2 thước (0,8 m), nặng 2 người khiêng… Bởi thế, cả xứ Dương Kinh (thời Mạc) mới có lời đồn: "Gà làng Tò, lợn làng Tó, vó chợ Đồn và gái Cổ Am". Hội làng trước kia có tục thi lợn béo.

2325. Lớp học chữ quốc ngữ ở Trình Phố

Do Chi hội VNCMTN mở, tháng 7-1927, đặt tại văn chỉ l. Trình Phố (nay là  x. An Ninh, h. Tiền Hải). Các ông Vũ Trọng, Ngô Long, Ngô Lân dạy văn hóa, ông Đỗ Khương dạy thể dục. Học trò đươc cấp một phần giấy mực. Sau hai năm, nhiều người theo học đã qua được bậc tiểu học, hàng trăm người biết đọc biết viết. Cuối năm 1929, chính quyền địa phương đã ra lệnh đóng cửa.

2326. LT2

Giống lúa thuần, thuộc nhóm lúa chất lượng do Viện KHKTNNVN chọn lọc từ tổ hợp KD 90 của Trung Quốc. Thân cây cao trung bình 95 ¸ 100 cm, lá hơi đứng, bông to có từ 180 ¸ 190 hạt/ bông. Gạo thơm dẻo, cơm khô. Cấy được cả 2 vụ, thời gian sinh trưởng: vụ mùa 105 ¸ 110 ngày vụ xuân 125 ¸ 135 ngày. Đẻ nhánh khá, chống chịu tốt với sâu bệnh, nhiễm bạc lá nhẹ hơn Bắc thơm 7. Năng suất vụ xuân tương đương với BT7; vụ mùa cao hơn TB7.  Đã đưa vào sản xuất ở Thái Bình từ năm 2001 ¸ 2002, cấy nhiều ở h. Thái Thuỵ.

2327. Lũ Phong 屢 豐

Xã cũ, đầu tk. XX thuộc tg Cao Mỗ, p. Tiên Hưng, t. Thái Bình.  Trong KCCP thuộc x. Phong Châu, h. Tiên Hưng. Nay thuộc x. Phú Châu, h. Đông Hưng. Dân số 246 người (1927). Tục lệ x. Lũ Phong : 18tr., gồm 19 ước của giáp Đông 東 lập ngày 5 tháng 2 năm Tự Đức 2 (1849); 10 ước của 3 giáp Đông, Trung 中, Đoài 兌  lập ngày 13 tháng 7 năm Thành Thái 9 (1897). Tất cả được sao lại ngày 23 tháng 9 năm Duy Tân 9 (1915). Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 4 tr., 7 tr. chữ Hán; 7 đạo sắc phong; thần: Lương Tướng Công, Hiếu Liêm, Liễu Hạnh

2328. Lũ Phong 屢 豐

Xã cũ, đầu tk. XX thuộc tg Tân An, h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Ái Quốc. Nay thuộc x. Tây Phong, h. Tiền Hải. Dân số 772 người (1927). Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 12 tr.; thần: Nguyễn Công Trứ, Hồng Nương, Trí Đức.

2329. Lúa (Oryza sativa L.)

Tên khác: Lúa nước, lúa gạo. Cây lương thực chính, loại cây hàng năm thuộc họ Hoà thảo. Thân cây có thể cao từ 1 ¸ 2 m, lá màu xanh, thon dài. Bông lúa có nhiều dé, dài 20 ¸ 40cm. Hoa lưỡng tính, có nhị đực quả có bao kín, thường gọi là hạt thóc. Thời gian sinh trưởng trung bình từ 100 ¸ 150 ngày, trồng được nhiều vụ trong năm. Có thể trồng ở mỗi loại đất với điều kiện phải có nhiệt độ thích hợp và 1 lấp nước trên mặt ruộng. Sản phẩm chính là lương thực, sản  phẩm phụ là rơm rạ làm nấm, đun nấu, làm phân.

Thái Bình được gọi là "tỉnh lúa" của cả nước. Diện tích trồng lúa chiếm 85% diện tích đất nông nghiệp. Cấy được cả 2 vụ xuân và vụ mùa. Đã từng có phương châm "từ đất đi lên, từ lúa và lợn đi ra". Năm 1966, Thái Bình là tỉnh đầu tiên trong cả nước đạt năng suất 5 tấn/ ha; vụ xuân năm 2005 đạt 7,10 tấn/ha, cao nhất từ trước tới nay. Sản lượng lúa năm 2004 là 1.072 ngàn tấn bằng 95,30% sản lượng lương thực. Từ năm 2000 diện tích trồng lúa đang giảm theo chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, dự kiến giảm 12¸14 % sang trồng cây khác (khoảng 10 ¸ 12 nghìn ha). Diện tích trồng lúa năm 2004 là 84.000ha. Sản xuất lúa cho lợi nhuận rất thấp nhưng về lâu dài ở Thái Bình vẫn phải duy trì để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

2330. Lúa Chiêm

Vụ lúa ở miền Bắc, gieo mạ vào tháng 10 ¸11 và thu hoạch vào tháng 4¸5 năm sau với những giống lúa cao cây . Các giống lúa chiêm là : lúa chiêm bầu, LC314, LC 180... ở Thái Bình, trước đây có vụ lúa chiêm, do thời gian sinh trưởng dài nên đã được thay thế bằng vụ lúa xuân, rút ngắn được 30 ¸ 45 ngày để lấy đất làm cây hoa màu vụ đông - xuân.

2331. Lúa Mùa

Vụ lúa được gieo cấy vào đầu mùa mưa và thu hoạch vào cuối mùa mưa. Lúa mùa có năng suất thấp hơn lúa xuân nhưng chất lượng ngon hơn lúa xuân như tám xoan, dự thơm, nếp cái hoa vàng. Có các trà lúa mùa sớm, mùa trung, mùa muộn. ở Thái Bình, vụ lúa mùa thường từ tháng 6 ¸ 11.  Chủ yếu là trà sớm và trung để giải phóng đất làm cây vụ đông. Do ảnh hưởng của mưa bão, úng lụt nên năng suất thấp và không ổn định; năng suất bình quân 5 năm (2000¸2004) là 52,028tạ/ha bằng 77% năng suất vụ xuân (67,546tạ/ha). Vụ mùa năm 2003 năng suất chỉ đạt  40,19tạ/ha do bị một trận mưa lớn lịch sử gây ngập úng 80% diện tích vào giữa tháng 9. Diện tích gieo cấy lúa mùa năm 2000 là 87. 593 ha, năm 2004 còn là 85.155ha do có 1 phần diện tích đã chuyển đổi sang cây trồng con khác có giá trị kinh tế hơn.

2332. Lúa Xuân

Vụ lúa mới được thực hiện vào cuối năm 1960 ở miền Bắc, với các giống lúa mới thấp cây. Lúa xuân năng suất cao đã thay thế lúa chiêm trên phần lớn diện tích và cho phép thực hiện một cơ cấu mùa vụ mới: vụ đông, lúa xuân, lúa mùa sớm thay thế cho cơ cấu 2 vụ lúa chiêm và mùa trước kia. ở Thái Bình, vụ lúa xuân đã thay thế cho vụ lúa chiêm từ đầu những năm 1980. Có 2 trà lúa: xuân sớm và xuân muộn. Hiện nay đang chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, bỏ vụ xuân sớm; năm 2004 đã có 79%diện tích gieo cấy vụ xuân muộn. Năng suất vụ xuân ổn định và cao hơn vụ mùa (bình quân 5 năm 2000- 2004: vụ xuân là 67.546tạ/ha; vụ mùa 52,208tạ/ha). Năm 2004, diện tích gieo cấy lúa xuân là 83,400ha, năng suất 70,19tạ/ha cao nhất so với các năm trước, bằng 1.23 lần năng suất vụ mùa cùng năm. Có nhiều giống lúa xuân trồng phổ biến là 15 giống như: lúa lai Trung Quốc (19% diện tích) Q5 (18%), Xi 203 (12%), Khâm dục (7%), Khang dân (6%), Lưỡng Quảng 8865, 13.

2333. Luật Ngoại 律 外

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Thái Vũ, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Xuân Vũ, p. Kiến Xương, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Quang Lịch, h. Kiến Xương. Nay thuộc x. Quang Lịch, h. Kiến Xương. Dân số 1.398 người (1927). Địa bạ x. Luật Ngoại : 6 tr.,  không ghi năm lập, gồm công tư điền thổ 434 mẫu; trong đó công điền 21 mẫu; tư điền 363 mẫu; tư thổ trạch viên trì 50 mẫu. Tục lệ x. Luật Ngoại: 20 tr., gồm 37 lệ của giáp Tây Thủy 恓 始, lập ngày 20 tháng 9 năm Đồng Khánh 2 (1887); 16 lệ của giáp Tân An 新 安, lập ngày 18 tháng Giêng năm Thành Thái 7 (1895), sao lại ngày 15 tháng 12 năm Khải Định 1 (1916). Thần tích x. Luật Ngoại: 6 tr., sự tích vị Thạch Công và Thánh Mẫu Phương Dung Quận Phu nhân thời Hùng Vương.  Hương ước x. Luật Ngoại (1936): 14 tr. viết tay.

2334. Luật Ngoại

Đình l. Luật Ngoại (xưa là trại của l. Luật Nội), x. Quang Lịch, h. Kiến Xương. Thời Lê tách thành xã. Đình thờ bà Phương Dung, Phu nhân huyện doãn h. Chân Định, thân mẫu của Thạch Công. Đình gồm 6 công trình, bố cục kiểu nội công, ngoại quốc. Phía trước có tòa tiền tế 5 gian, 2 tòa các lâu 3 tầng trấn 2 sảnh hồi. Tòa ống muống 3 gian, hậu cung 2 gian. Trừ tả vu, hữu vu, lắp kèo kẻ, bào trơn, đóng bén, các tòa  tiền tế, hậu cung đều cấu trúc kiểu lòng thuyền, thượng giường, hạ bẩy. Các đầu dư chạm rồng, trổ, lỗng, bong kênh 5 tầng, đấu chạm hoa sen, giường chạm rồng phượng, văn mây... Cụm di tích đình Luật Nội, đình Luật Ngoại được xếp hạng DTLS, DTKTNT cấp  Quốc gia (1990).

2335. Luật Nội 律 內

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Thái Vũ, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Xuân Vũ, p. Kiến Xương, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Quang Lịch, h. Kiến Xương. Nay thuộc x. Quang Lịch, h. Kiến Xương. Dân số 1.400  người (1927 ). Địa Bạ x. Luật Nội : 16 tr., không ghi năm lập, gồm công tư điền thổ 474 mẫu; trong đó công điền 1 mẫu; tư điền 314 mẫu; đất hạng 2, 79 mẫu. Thần tích x. Luật Nội: 16 tr.,  do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Thạch Công (Thạch Thần Hộ Quốc Đại Vương) và Thánh Mẫu Phương Dung Quận Phu nhân thời Hùng Duệ Vương. Tục lệ x. Luật Nội : 14 tr., gồm 22 lệ, lập ngày 1 tháng 10 năm Tự Đức 36 (1883), sao lại ngày 14 tháng 12 năm Khải Định 1 (1916).

2336. Luật Nội

 

Đình l. Luật Nội, x. Quang Lịch, h. Kiến Xương. Theo thần phả, đình xưa là bản doanh của nữ tướng Phương Dung, có từ tk. VI. Đời Lê, dân Luật Nội, Luật Ngoại, Luật Trung mới nâng miếu thành đình, xây cất to rộng. Đình hiện tại được dựng lại năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), giữ nguyên hiện trạng. Bái đình 5 gian. Trung đình 3 gian, hậu cung 3 gian. Hai tòa tả, hữu vu, mỗi tòa 3 gian, lắp kèo kẻ. Đồ thờ tự đáng chú ý là cỗ khám lớn, có 2 tầng cửa võng, bệ chân quì dạ cá chạm tứ linh, trong đặt tượng Thánh mẫu Phương Dung. Cụm di tích đình Luật Nội, đình Luật Ngoại được xếp hạng DTLS, DTKTNT cấp  Quốc gia (1990).

2337. Luật Trung 律 中

Xã cũ, đầu tk. XX thuộc tg Xuân Vũ, p. Kiến Xương, t. Thái Bình. Trong KCCP và nay vẫn thuộc x. Quang Lịch, h. Kiến Xương. Dân số 594 người (1927). Tục lệ x. Luật Trung : 4 tr., gồm 4  điều, sao lại ngày 15 tháng 12 năm Khải Định 1 (1916). Hương ước x. Luật Trung (1936): 7tr. viết tay.

2338. Lục

Chợ thuộc x. Thái Xuyên, h. Thái Thụy, họp tháng 6 phiên vào buổi chiều các ngày 5, 10 âm lịch,  không có xép. Lều quán chia thành từng khu. Ngư dân đánh bắt hải sản từ Thái Hòa, Thái Đô về lẻ tẻ từ sáng đến trưa bán ở chợ Cầu. Tan chợ Cầu thì về bán ở chợ Lục. Cá mòi, cá khoai, tôm vàng, gion, día, ngao vọp, cua ghẹ... tươi mà rẻ. Vào tháng 5 ở chợ có sứa muối, tháng 7 thì có nhiều thị, bứa và ổi găng... Nhưng thị vẫn bán nhiều ở chợ, người ta mua về bỏ vào cái rọ treo ở nhà cho thơm là chính.

2339. Lục Cung Hoàng hậu

Thần thờ ở x. Tống Thỏ, tg Trực Nội, p. Thái Ninh (nay thuộc x. Đông Mỹ, tp. Thái Bình). Sự tích : Thần là Hoàng hậu triều Hậu Lý. Tương truyền, một hôm Hoàng hậu tâu vua, đêm trước nằm mộng gặp thần nhân cho biết Thiên đế chuẩn cho thần thiếp sau này sẽ là Phúc thần của x. Tống Thỏ. Hoàng hậu qua đời, vua ban sắc cho dân x. Tống Thỏ thờ làm Thành hoàng. Các triều đều có sắc phong rất linh ứng.

Thái Bình tỉnh thần tích (AE.a5/44,100,238) (Q4 0 -18/VIII,100(8)).

2340. Lục Lang Đại Vương

Thần thờ ở x. Tế Quan (sau đổi là Đồng Hải), tg Đồng Hải, h. Thanh Quan (nay thuộc x. Đông Vinh, h. Đông Hưng). Sự tích : Vương là con trai thứ của Trần Nghệ Tông, tổ ngoại là Vũ Đình Quang, người l. Cổ Lũy, h. Tây Quan, ngụ cư ở Kinh đô, sinh con gái là Vũ Nương xinh đẹp, Nghệ Tông đón vào cung cho làm Phi. Phi sinh ra Thiệu Ninh Công chúa, con trai tên là Lục Lang, được phong hiệu Lục Lang Trung Tĩnh Thanh Tịnh Đại Vương. Lục Lang lấy Công chúa Tam Độc Trinh Mỹ sinh sáu người con trai, đều bậc thần tướng: Tư Mã Đại tướng quân Đại Vương, Đạo Hiển ứng Đô súy Đại Vương, Đô Thiên Thánh Đức Bảo đại Đại Vương, Thành hoàng Khôn duy Đại Vương, Thành hoàng Tân Sơn Đại Vương, Đương cảnh Đương Địch Phúc Thiện Chính thần Đại Vương. Vũ Phi lúc tuổi già về quê mẹ Tây Quan tu chùa, hiệu là Thiên Huệ Ưu Bà Di. Niên hiệu Xương Phù (1377-1388), Vương cho xây chùa ở Tây Quan gọi là chùa Tự Ân (Tự Ân tự) dựng bia kỷ niệm trước sân chùa. Sai Hàn lâm viện Thừa chỉ Hồ Tông Thốc soạn văn, có câu trong minh văn: Tây Quan có chùa tên gọi Từ Ân.

Niên hiệu Quang Thái (1388-1398), Vương theo vua cha đi đánh Chiêm Thành. Gặp loạn Hồ Qúy Ly, Vương đem gia quyến về quê ngoại rồi mất ở đó. Mộ táng ở phía nam chùa. Công chúa Tam Độc sau cũng ở đó, mộ táng ở phía tây nam chùa. Con trưởng của Vương là Tư Mã Đại tướng quân Đại Vương xây hai miếu ở đó để thờ cha mẹ. Về sau, Tư Mã và thứ đệ cũng được an táng ở đây.

Thái Bình tỉnh thần tích (AE a5/38,210), (Q4 0 -18/VIII,6).

2341. Lục Linh 淥 泠

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Lễ Thần, h. Thanh Quan, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Lễ Thần, p. Thái Ninh, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Thanh Lục, h. Thái Ninh. Nay thuộc x. Thái Đô, h. Thái Thụy. Dân số 2.378 người (1927). Địa bạ x. Lục Linh : 36 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 892 mẫu 9 sào 12 thước 1 tấc 6 phân; trong đó công điền 219 mẫu 9 sào 12 thước 1 tấc 6 phân; tư điền 439 mẫu 4 sào 7 tấc 2 phân công thổ trạch viên trì 155 mẫu 9 sào 9 thước. Thần sắc x. Lục Linh : 13 tr., phong cấp vào các năm Vĩnh Thịnh (1 đạo), Vĩnh Khánh (1 đạo), Cảnh Hưng (3 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo). Phong cho Vũ Đại Đồng Linh ứng... Đại Vương. Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 58 tr., 58 tr. chữ Hán; 30 đạo sắc phong; 2 bản thần tích; thần: Vũ Đại Đồng, Giang Lâm, Vũ Tướng Quân, Bình Thủy, Bàng Khế, Nghĩa Công, Đài Càn Quốc mẫu, Tiết Chế Đông Đạo. Tục lệ x. Lục Linh : 8tr., gồm 11 lệ không ghi ngày lập. Hương ước x. Lục Linh (1937): 18 tr. Viết tay.

2342. Lũng Đầu 隴 頭

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Thần Nhuệ, h. Thanh Quan, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Thần Huống, p. Thái Ninh, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Thanh Lục, h. Thái Ninh. Nay thuộc x. Thái Xuyên, h. Thái Thụy. Dân số 1.638 người (1927). Địa bạ x. Lũng Đầu: 12 tr., khai tháng 4 năm Thành Thái 12 (1900), gồm công tư điền thổ 499 mẫu; trong đó công điền 276 mẫu 3 sào; tư điền 62 mẫu 7 sào; đất hạng 2, 30 mẫu; đất hạng 3, 100 mẫu. Thần sắc x. Lũng Đầu : 11 tr., phong cấp vào các năm Vĩnh Khánh (1 đạo), Cảnh Hưng (2 đạo), Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo). Phong cho Thượng Đẳng Hiển ứng... Đại Vương.  Thần tích x. Lũng Đầu : 12 tr.,  sao năm 1737, về sự tích Hiển Công (Hiển ứng Uy Linh... Đại Vương) và Trụ Công (Long Vương Thượng Trụ... Đại Vương) thời Lê Thái Tổ. Tục lệ x. Lũng Đầu : 12tr., gồm 25 lệ lập ngày 3 tháng 8 năm Đồng Khánh 1 (1886).  Hương ước l. Lũng Đầu (...): 14 tr. viết tay.

2343. Lũng Tả 隴 左

Xã cũ, cuối tk. XIX là giáp Lũng Tả thuộc tg Tân Bồi, h. Tiền Hải, p. Kiến Xương, t. Nam Định. Đầu tk. XX là x. Lũng Tả thuộc tg Tân Bồi, p. Thái Ninh, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Minh Đức, h. Thái Ninh. Nay thuộc x. Thái Xuyên, h. Thái Thụy. Dân số 225 người (1927). Địa bạ x. Lũng Tả: 4 tr., khai tháng 3 năm Thành Thái 12 (1900),  gồm điền thổ 265 mẫu; trong đó ruộng hạng 3, 55 mẫu; đất hạng 3, 32 mẫu; đất hạng 4, 178 mẫu. Tục lệ x. Lũng Tả : 6tr., gồm 10 lệ không ghi ngày lập. Hương ước l. Lũng Tả (1942): 11 tr. viết tay. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 3 tr., 4 tr. chữ Hán; 4 đạo sắc phong; thần Nam Hải Tứ Vị.

2344. Luộc

Sông chi lưu của sông Hồng, dài 52 km, chảy phân dòng sang sông Thái Bình và là địa giới phía bắc của tỉnh, đối ngạn là h. Tiên Lữ, t. Hưng Yên và các h. Tứ Kỳ, Ninh Giang của t. Hải Dương. Cửa thượng nguồn tại th. Mỹ Xá, x. Phú Sơn, h. Hưng Hà đến cống Nhâm Lang, x. Tân Tiến (Hưng Hà) thì chia dòng (có chi lưu là sông Tiên Hưng), đến th. Lộng Khê, h. Quỳnh Phụ lại chia dòng: dòng chính chảy sang sông Hồng, chi lưu sông Hoá chảy ra biển.

Đắp một quãng đê sông Luộc bị vỡ (1932)

Tên cũ của sông là Phổ Đà. Sau có tên là Đà Lỗ ( Đà là sông nhánh, Lỗ hàm ý chỉ nơi bắt sống được quân giặc - "tôi mọi").  Tên gọi của sông thay đổi theo từng thời. Thời Trần sử chép là sông Hải Thị (chỉ cửa sông ở vùng Hải ấp, p. Long Hưng), sông A Lỗ, thời Lê Sơ gọi là sông Nông Kỳ. Ngoài giá trị bồi đắp phù sa, giao thông đường thuỷ với các thương bến Hải Thị, Bến Hiệp và Ninh Giang (Hải Dương) sông còn là đất quan yếu về quốc phòng. Nguyễn Trãi viết "Nông Kỳ, Đọi Điệp ở về phương nam là phiên trấn thứ 3 trong 4 phiên trấn phên dậu chính ở phía nam". Thời Nguyễn đổi tên là sông Luộc. Tuy sông không rộng nhưng lại là dòng sông chiến lược về kinh tế, quân sự trong suốt các triều đại Lý, Trần, Lê và cả thời kỳ chống Pháp sau này.

2345. Luộc

Cửa sông, nơi phân dòng giữa sông Hồng và sông Luộc. Còn gọi là cửa Thuỷ Tiên, nơi tiếp giáp giữa 3 phủ Long Hưng, Thiên Trường và Khoái Lộ, sau lệ vào 3 tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên. Muôn đời là địa điểm xung yếu của nước ta. Từ các làng Mỹ Xá, Phú Hà của Thái Bình nhìn sang bờ bắc, bờ tây sông Luộc, sông Hồng đều xa trên 1km, nước sâu, sóng lớn. Trên đôi bờ đều thờ Mẫu Thoải, cũng gọi là Thuỷ Tiên, dân gian gọi là Mẫu Cửa Luộc. Câu ca: "Nhất cao là núi Tản Viên - Nhất sâu là nước Thuỷ Tiên linh từ", cho biết thế sông, hiểm nước ở đây. Xưa các thương nhân và tàu thuyền qua lại bến sông này đều vào đền dâng lễ. Thời Lê đã cấp nhiều sắc phong, thời Nguyễn chép vào Tự điển bách thần, hàng năm cho quan về cúng tế.

2346. Luyến Khuyết 戀 決

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Đông Triều, h. Đông Quan, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Đông Hồ, h. Đông Quan, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Hồng Hưng, h. Thụy Anh. Nay thuộc x. Thụy Phong, h. Thái Thụy. Dân số 913 người (1927). Địa bạ x. Luyến Khuyết: 20 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 266 mẫu 5 sào 8 thước 8 tấc 2 phân; trong đó công điền 6 mẫu 6 sào 5 tấc; tư điền 246 mẫu 4 sào 5 thước 2 phân; thổ trạch viên trì 9 mẫu 8 sào 8 thước 2 tấc. Tục lệ x. Luyến Khuyết : 28tr., gồm 41 lệ lập ngày 24 tháng 8 năm Thiệu Trị 7 (1847).

2347. Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Thái Bình

Tập thể Anh hùng. Trong cuộc KCCM, từ 1965 đến 1972, LLVTND t. Thái Bình đã bắn rơi 34 máy bay phản lực Mỹ và phối hợp với các lực lượng khác đóng trong tỉnh bắn rơi 10 chiếc khác; đã phá được trên 1200 quả bom các loại; đã huy động 124.000 thanh niên dân quân tự vệ tòng quân. Là tỉnh có tỷ lệ người đi bộ đội so với dân số cao nhất các tỉnh trong cả nước, đạt 12%. Ngoài ra còn động viên hơn 3 vạn dân quân tự vệ đi phục vụ chiến trường. Xây dựng, huấn luyện 92 tiểu đoàn có chất lượng tốt bổ sung cho chiến trường. Có 75 đơn vị được tặng thưởng Huân chương Quân công và Huân chương Chiến công các hạng. Ngày 6-11-1978, được Chủ tịch Nước tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

2348. Lương Anh Dũng (s. 1942)

Quê th. Đông, x. Hồng Việt, h. Đông Hưng.  Xuất thân trong một gia đình có truyền thống yêu nước, hiếu học; là cháu đích tôn đời thứ 5 của Thượng thư Lương Quy Chính. Tốt nghiệp kiến trúc sư Trường đại học Kiến trúc Hà Nội, khóa 1961-1965. Công tác nhiều năm tại Viện thiết kế Dân dụng - Bộ Kiến trúc, nay là Tổng công ty tư vấn xây dựng Việt Nam - Bộ Xây dựng. Ông đã thiết kế nhiều khách sạn, bệnh viện, trụ sở, nhà ở cao tầng, nhà văn hóa, nhà thi đấu, đài phát thanh, ga hàng không...  Tham gia nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, cấp nhà nước; biên soạn sách về kiến trúc xây dựng; hợp tác nghiên cứu thiết kế với các nước: Đức, Thụy Điển, Na Uy (công trình bệnh viện); Liên Xô (Bảo tàng Hồ Chí Minh); Pháp (Trường đại học sư phạm tiếng Pháp Hà Nội); Nhật (Nhà văn phòng, Tháp truyền hình Hà Nội); Mỹ, Anh, Đức, úc (Nhà ga hàng không T1 Nội Bài).

Tác phẩm Ga hàng không quốc tế Nội Bài đoạt Giải thưởng kiến trúc Quốc gia hạng nhất năm 2003. Năm 2007 được Giải thưởng Nhà nước về VHNT chuyên ngành Kiến trúc cho cụm công trình: Ga hàng không quốc tế Nội Bài, Khách sạn Hữu nghị Hải Phòng, Trường đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội.

Xt: Lương Quy Chính (2366) , Lương Duyên Hồi (2352) .

2349. Lương Chí (1919-2008)

Quê l. Đông Cao, x. Tây Tiến, h. Tiền Hải. Tham Gia cách mạng năm 1935. Tháng 6-1940, tại hội nghị thành lập Huyện ủy Tiền Hải chính thức, được bầu vào  Ban Huyện ủy, đến 10-1940 được Tỉnh ủy chỉ định làm Bí thư Huyện ủy h. Tiền Hải thay Nguyễn Trung Khuyến lên công tác ở tỉnh. Cuối 1940, được bổ sung vào BCH tỉnh Đảng bộ. Trong lúc đi công tác ở h. Quỳnh Côi, bị mật thám Pháp bắt, đánh đập tra tấn dã man, nhưng không khai báo, bị xử tù 20 năm, giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), rồi đầy ra Côn Đảo. Cách mạng tháng tám 1945 thành công, Trung ương đón về Nam Bộ, phân công về h. Phụng Hiệp, t. Cần Thơ.  Từ đầu 1951 đến giữa 1951 là Quyền Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ; từ giữa 1951 đến 11-1954 là Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ. 1-1955 tập kết ra miền Bắc, là chuyên viên Văn phòng Bộ Công nghiệp, rồi Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ và Lao động tiền lương Bộ Điện lực. Nghỉ hưu năm 1980. Ông là thành viên sáng lập Hội đồng hương Thái Bình tại tp Hồ Chí Minh. Qua đời 3- 2008.

Khen thưởng: Huân chương Độc lập hạng hai, Huân chương Quyết thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Mỹ) hạng nhất, Huy hiệu Thành đồng tổ quốc, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

2350. Lương cụ 良 具

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Quỳnh Ngọc, h. Quỳnh Côi, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Quỳnh Ngọc, h. Quỳnh Côi, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Lạc Hồng, h. Quỳnh Côi. Nay thuộc x. Quỳnh Hồng, h. Quỳnh Phụ. Dân số 3.201 người (1927). Địa bạ x. Lương cụ: 22 tr.,  khai tháng 5 năm Thành Thái 8 (1896), gồm công tư điền thổ 780 mẫu; trong đó công điền 518 mẫu; tư điền 77 mẫu. Thần sắc x. Lương Cụ : 7 tr., phong cấp vào các năm Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo). Phong cho Uy Linh Hiển Tướng... Đại Vương. Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 6 tr.; thần Thành. Tục lệ x. Lương Cụ : 26 tr., gồm 9 điều, lập ngày 18 tháng 3 năm Đồng Khánh 1 (1888); 22 khoản, lập ngày 16 tháng 3 năm Duy Tân 2 (1908).

2351. Lương Doãn (s. 1921)

Quê  x. Tây Tiến, h. Tiền Hải. Hoạt động trong tổ chức Thanh niên dân chủ, Thanh niên phản đế, Thanh niên cứu quốc (5/1937-2/1942); bị Pháp bắt, giam ở nhà tù Hỏa Lò - Hà Nội (3/1942- 4/1943); ra tù về địa phương tiếp tục hoạt động và tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở h. Tiền Hải (5/1943-9/1945). Nhập ngũ 10-1945, được kết nạp vào Đảng 12-1946. Trưởng thành từ cán bộ trung đội, đại đội, tiểu đoàn; Phó chủ nhiệm chính trị E556 Quân khu 3; Phó phòng cán bộ Quân khu Việt Bắc; Phó chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 50 Quân khu Tả Ngạn; Phó phòng, Trưởng phòng Điệp báo ngoại, Trưởng phòng Chính trị Cục Tình báo Bộ Tổng tham mưu; Chính ủy Trung đoàn 75 Cục Nghiên cứu BTTM; Đại tá Trưởng phòng Tổng kết Cục Nghiên cứu BTTM. Nghỉ hưu 10-1983.

Khen thưởng: Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Quân công hạng 2,  Huân chương Chiến thắng hạng 2, Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng 3, Huân chương Chiến sỹ Vẻ vang (1, 2, 3), Kỷ niệm chương tù chính trị, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và được công nhận là Lão thành Cách mạng.

2352. Lương Duyên Hồi (1903 - 1986)

Quê th. Tứ, x. Hồng Việt, h. Đông Hưng; là cháu nội Thượng thư Lương Quy Chính (1825-1907). Năm 1925 thành lập "Đông Anh thư viện" truyền bá sách báo tiến bộ. Năm 1927 cùng anh trai là Lương Duyên Thiếp và các đồng chí Nguyễn Văn Năng, Bùi Hữu Diên… mở trường tư thục Minh Thành tại tx. Thái Bình. Cuối 1927 tham gia thành lập chi bộ VNCMTN trường Minh Thành. 3/1928 - 6/1929 là ủy viên tỉnh bộ VNCMTN, cùng Bùi Hữu Diên phụ trách gây dựng cơ sở cách mạng tại Tiên Hưng - Duyên Hà. Cuối 6 -1929, Đảng bộ ĐDCSĐ Thái Bình được thành lập, Lương Duyên Hồi là Tỉnh ủy viên, kiêm Bí thư chi bộ Thần Duyên gồm 6 đảng viên. 4-1930 làm Bí thư chi bộ Quán Xá, Bá Thôn, Phú Khê có 16 đảng viên. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Liên chi bộ Thần - Duyên tổ chức cuộc biểu tình của  nông dân Tiên Hưng - Duyên Hà ngày 1-5-1930. Lương Duyên Hồi và các đồng chí Bùi Hữu Diên, Trần Văn Ngọ bị kết án nặng nhất: 10 năm phóng trục, đày đi Guyana (Nam Mỹ). 5 -1938 được ân xá. 1939 về đến Việt Nam thì nổ ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, thực dân Pháp tiến hành đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng Thái Bình. Lương Duyên Hồi bị bắt đi an trí ở Hưng Yên (1939 - 2/1941), sau đó bị quản thúc tại quê nhà. Tháng 8-1945, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại phủ lỵ Tiên Hưng, sau đó được cử làm ủy viên tài chính UBND cách mạng lâm thời p. Tiên Hưng. Từ 7-1946, được điều động về tăng cường cho cơ sở, làm Chủ tịch x. Tân Hưng (7/1946 - 8/1947); Chủ tịch liên xã Bạch Đằng (9/1947-10/1948); Trưởng ban đốc chiến x. Thăng Long (12/1949 -3/1950); tham gia cấp ủy địa phương lãnh đạo chống càn (12/1950 - 5/1954). Là Huyện ủy viên  Tiên Hưng 2 khoá 1948 -1949, cán bộ thi đua của tỉnh (1949), Chủ tịch Liên Việt h. Tiên Hưng (1950), dự lớp giảm tô đợt 7 và tham gia ban chỉ huy công trường khai thác đá Cánh Diều tại Ninh Bình (6/1954 - 7/1955), công tác tài vụ tại Ty Thủy lợi Thái Bình (8/1955-6/1964). Đại biểu Quốc hội khóa II (1960-1964). Nghỉ hưu từ 7-1964. Huân chương: Độc lập hạng ba, Kháng chiến chống Pháp hạng ba, Kháng chiến chống Mỹ hạng hai. Huy hiệu 40 năm, 50 năm tuổi Đảng. Được công nhận: Đảng viên năm 1930, Gia đình có công với nước, Lão thành cách mạng.

2353. Lương Điền  良田

Xã cũ, cuối tk. XIX là ấp Lương Điền thuộc tg Tân Phong, h. Tiền Hải, p. Kiến Xương, t. Nam Định. Đầu tk. XX là x. Lương Điền, thuộc tg Tân Phong, h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Ngọc Thụ. Nay là th. Lương Điền thuộc x. Đông Cơ, h. Tiền Hải. Dân số 1083 người (1927). Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 33 tr., 16 tr. chữ Hán; 8 đạo sắc phong; thần:  Rinh Điền, Đương Cảnh Bản Thổ, Bản Cảnh Thành hoàng, Đương Cảnh Thành hoàng. Hương ước x. Lương Điền (1936): 7 tr. viết tay.

2354. Lương Đống

Xã cũ, đầu tk. XIX là x. Cự Đống thuộc tg Động

Hối, h. Thanh Quan, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Cuối tk. XIX là x. Lương Đống thuộc tg Đồng Hải, h. Thanh Quan, p. Thái Bình, t. Nam Định. Đầu tk. XX là x. Lương Đống thuộc tg Đông Động, p. Thái Ninh, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Tứ Hải, h. Đông Quan. Nay thuộc x. Đông Giang, h. Đông Hưng. Dân số 994 người (1927). Địa bạ x. Lương Đống : 22 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 258 mẫu 7 sào 10 thước 3 tấc; trong đó công điền 69 mẫu 4 sào 6 thước 3 tấc; tư điền 115 mẫu 2 sào 9 thước 5 tấc; thổ trạch viên trì, thần từ Phật tự  60 mẫu 6 sào 8 thước 3 tấc. Thần tích x. Lương Đống : 3 tr., gồm sự tích Cao Sơn Đại Vương: họ Cao, húy là Hiển, người Bắc Quốc; sự tích Thông Minh Nhân Thánh... Phúc thần: họ Đông, húy là Lương, đại Tướng Quân thời Tiền Lê; sự tích Cương Minh... Phúc thần: họ Đào (?), húy là Hộ, Đại tướng quân thời Tiền Lê; sự tích Minh Triết... Phúc thần: họ Cao, húy Phát; và sự tích Thái Giám Tôn thần: họ Chân, húy Kim, Quan Thái giám triều Lê. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 43 tr., 50 tr. chữ Hán; 19 đạo sắc phong; 6 thần tích; thần: Cao Tuệ, Cao Tâm, Cao Đầu, Cao Cơ, Cao Tĩnh, Cao Rục, Long Thần. Tục lệ x. Lương Đống : 32tr., gồm 19 lệ của giáp Đặng Nhị 鄧 二 lập ngày 25 tháng 6 năm Thành Thái 17 (1905); 9 lệ của giáp Trần Thượng 陳 上; 6 lệ của giáp Trần Hạ 陳 下 không ghi ngày lập; 20 lệ, lập ngày 20 tháng 8 năm Thành Thái 16 (1904). Hương ước x. Lương Đống (1936): 10 tr. viết tay.

Xt: Cự Đống (xã cũ -728)

2355. Lương Khê 良 溪

Xã cũ, đầu tk. XIX là x. Lãng Khê thuộc tg Quan Bế, h. Hưng Nhân, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ. Từ cuối tk. XIX là x. Lương Khê thuộc tg Quan Bế, h. Hưng Nhân, p. Tiên Hưng, t. Hưng Yên. Đầu tk. XX thuộc tg Quan Bế, h. Hưng Nhân, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Cấp Tiến, h. Hưng Nhân. Nay thuộc x. Cộng Hòa, h. Hưng Hà. Dân số 1509 (1927). Tục lệ th. Nhiễm 染: 8 tr., gồm 12 lệ, lập ngày 20 tháng 8 năm Tự Đức  8 (1875); th. Phan 潘: 16 tr., gồm 22 khoản, lệ lập ngày 18 tháng 3 năm Thành Thái 16 (1904).

2356. Lương Mỹ 良 美

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Quỳnh Côi, h. Quỳnh Côi, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Quỳnh Côi, h. Quỳnh Côi, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Hồng Quảng, h. Quỳnh Côi. Nay thuộc x. Quỳnh Hội, h. Quỳnh Phụ. Dân số 848 người (1927). Địa bạ x. Lương Mỹ :  10 tr., khai tháng 3 năm Thành Thái 12 (1900), gồm công tư điền thổ 493 mẫu; trong đó công điền 9 mẫu; tư điền 420 mẫu; thần từ Phật tự 1 mẫu; đất hạng 2, 16 mẫu. Tục lệ x. Lương Mỹ:  6 tr., gồm 7 lệ, không ghi ngày lập. Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 6 tr.; thần  Thiên Quan Minh Thông.

2357. Lương Mỹ

Đình th. Lương Mỹ, x. Quỳnh Hội, h. Quỳnh Phụ. Khởi xây đời Lê, đại tu năm Quý Sửu đời Bảo Đại (1937), tọa lạc trên khuôn viên rộng 2.059 m 2 , gồm 3 tòa, 10 gian, bố cục kiểu chữ "công". Đại bái 5 gian. Tòa ống muống 2 gian. Hậu cung 3 gian. Đình thờ Cao Sơn Đại Vương, Thiên Quan Đại Vương; Thủy tinh: Hoàng Ngọc Hoa Công chúa, Vũ Đô Phú Đại Vương Tôn thần, Hồng Ân Đại Vương Tôn thần. Tháng 3-1944, Ban Việt Minh h. Quỳnh Côi họp tại đình bàn phương án phát triển Mặt trận Việt Minh của huyện. Trong các năm 1946-1949, đình là cơ sở sản xuất vũ khí của xưởng quân khí Quân khu III. Được xếp hạng DTKTNT cấp tỉnh (2004).

2358. Lương Ngọc 良 玉

Xã cũ, vốn là x. Lương Xá, đầu tk. XIX thuộc tg Quan Bế, h. Hưng Nhân, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Hưng Yên, từ 1894 thuộc t. Thái Bình).  Để tránh sự nhầm lẫn do trùng tên, Quyết định số 23 ngày 9-3-1895 của Kinh lược Bắc Kỳ, đổi thành x. Lương Ngọc. Đầu tk. XX thuộc tg Quan Bế, h. Hưng Nhân, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Cấp Tiến, h. Hưng Nhân. Nay thuộc x. Tân Tiến, h. Hưng Hà. Dân số 986 người (1927).

Tục lệ x. Lương Ngọc :  8 tr., gồm 3 lệ, lập ngày 12 tháng 9 năm Tự Đức 23 (1870); 7 lệ, lập ngày 15 tháng 9 năm Thành Thái 14 (1902); 23 khoản, lập ngày 1 tháng 6 năm Duy Tân 3 (1909). Thần tích x. Lương Ngọc : 8 tr., gồm sự tích Bát Nạn Phu nhân (Trinh Thục Công chúa) thời Trưng Nữ Vương; sự tích Thục An Dương Vương (Nam Hải Đại Vương); và sự tích Đoàn Thượng (Đông Hải Đại Vương) thời Lý.

Đắp đập Lương Ngọc (1933)

2359. Lương Ngọc Cẩn (1872-1902)

Người l. Phụng Thượng, nay thuộc x. Vũ An, h. Kiến Xương, đỗ Cử nhân khoa Giáp Ngọ (1894). Có tinh thần yêu nước, căm ghét bọn thực dân và tay sai. Tính tình khảng khái, nhiều lần bị Pháp bắt giam. Ông còn là nhà thơ, một số tác phẩm của ông được trích in trong Thơ văn yêu nước chống Pháp ở Thái Bình (Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao Thái Bình xb năm 1997).

2360. Lương Nhân

Xã cũ, cuối tk. XIX là th. Lang Nhân x. Lập Lễ thuộc tg Hà Lý, h. Duyên Hà, p. Tiên Hưng, t. Hưng Yên. Đầu tk. XX là x. Lương Nhân, tg Hà Lý, h. Duyên Hà, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Thống Nhất, h. Duyên Hà. Nay thuộc

Tin mới ...
Tin cũ hơn ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 0 đánh giá

Album ảnh, Đại Hội VIII - Hội đồng hương Thái Bình CHLB Đức, Berlin 16.05.2016

Thanh niên & Sinh viên Thái bình

Hát xẩm - Hồng Tươi - Hoàng Thị Dư - Xuân Phương - Trà Giang

Tỷ giá - Thời tiết

Tỷ giá

Thông tin thời tiết

   

Back To Top