Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Từ điển Thái Bình » "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 2903-3364, N - Q)

Từ điển Thái Bình

"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 2903-3364, N - Q)

Ngày đăng: 31/07/2013 In trang

"Ông Nguyễn Quang Ân là nhà sử học, công tác tại Viện Sử học Việt Nam. Từ năm 1998 ông là Giám đốc Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông Ân là tác giả và đồng chủ biên tác phẩm Từ điển Thái Bình và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn sử học khác. Ông đã góp ý kiến và nhiệt tình gửi tới BBT một số tác phẩm đã xuất bản về quê hương Thái Bình để giúp BBT có tài liệu tham khảo, tuyên truyền giới thiệu tới bà con đồng hương xa nhà.
Xin quý bạn đọc lưu ý mấy điểm như sau:
1/ Về nội dung và thứ tự các mục từ hoàn toàn theo bản in ở trong nước.
2/ Về hình thức có sự thay đổi như: thứ tự số trang, phông chữ và tên mục từ không dùng chữ in hoa như bản in.

3/ Do điều kiện kỹ thuật trình bầy trên trang web không thể đưa chữ Hán Nôm và cũng không thể đưa hết các ảnh minh họa ở nhiều mục từ như sách đã in.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Quang Ân đã có tâm huyết và gửi tặng cho dhthaibinh.de bộ sách "Từ điển Thái bình" này và mong rằng bạn đọc của dhthaibinh.de sẽ hiểu hơn nữa về quê hương Thái Bình chúng ta".

Cuốn "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập gồm 4990 mục từ, 1300 trang in khổ 19x27cm do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo biên soạn; Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên; Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2010.

Chúng tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc toàn tập của cuốn từ điển qúy giá này.

***


Tiếp theo...

2903. Nguyễn Văn Thặng (s.1941)

Chủ tịch UBND t. Thái Bình (1997-1999), quê th. Tịnh Xuyên, x. Hồng Minh, h. Hưng Hà. Đảng viên ĐCSVN (1959). Tốt nghiệp trung cấp sư phạm,  được  đào tạo tại Học viện Chính trị quốc gia  Hồ Chí Minh. 1952 - 1957: liên lạc du kích  xã,  rồi bộ đội huyện,  cán bộ đoàn Thanh niên ở xã. 1957 - 1960: Bí thư đoàn  thanh niên xã, giáo viên cấp I x. Hồng Minh. 1960 - 1982:  Cán bộ văn phòng trường Cấp III Bắc Duyên Hà, cán bộ tỉnh đoàn Thanh Niên, Bí thư đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trường cấp III Quỳnh Côi, Thường vụ huyện đoàn h. Quỳnh Côi, Phó Bí thư  tỉnh đoàn  Thái Bình, Phó trưởng ban kinh tế mới tỉnh. 1982 -1994 Công tác tại h. Hưng Hà,  giữ các chức vụ: Phó Bí thư  thường trực Huyện ủy  (1982 - 1986),  Bí thư Huyện ủy (1986 - 1989), ủy viên ban thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện (1989 - 1997). 1997 - 1999: Phó

bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình. Nghỉ hưu từ 1-4-2000

Được tặng thưởng: Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng II, Huân chương kháng chiến chống Mỹ  cứu nước hạng nhất, Huân chương lao động hạng Ba, hạng hai. Bằng khen của Thủ tướng chính phủ.

2904. Nguyễn Văn Thường (s.1948)

Giáo sư Kinh tế (1996), Tiến sĩ (1982), Nhà giáo ưu tú. Quê x. Phúc Khánh, h. Hưng Hà. Đảng viên ĐCSVN. 1970 - 1978 Cán bộ giảng dạy trường đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. 1978 - 1982 Nghiên cứu sinh tại Cộng hoà Dân chủ Đức. 1982 - nay Cán bộ giảng dạy trường đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội . 1983 - 1996 đã đảm nhiệm các chức vụ: Trưởng khoa, Trưởng bộ môn, Đảng uỷ viên trường, Bí thư Đảng uỷ khoa. 1997 - 2003 P. Hiệu trưởng kiêm Trưởng bộ môn, Đảng uỷ viên. 6 - 2003 Hiệu trưởng trường đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội , Phó bí thư Đảng uỷ trường, Uỷ viên Hội đồng quản trị, Trưởng Ban Kiểm tra phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng chức danh giáo sư ngành kinh tế, Uỷ viên Hội đồng lí luận  trung ương.

Hướng nghiên cứu chủ yếu: Về cơ chế chính sách kinh tế. Các lí luận cơ bản. Các mô hình kinh tế. Hướng dẫn thành công 26 luận án Tiến sĩ và luận văn Thạc sĩ. Chủ trì và tham gia 18 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp và quốc tế. Viết 40 bài báo và báo cáo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành. Đã xuất bản 12 cuốn sách, giáo trình, sách tham khảo phục vụ cho học tập và nghiên cứu. Huân chương lao động hạng Ba, Huân chương  hữu nghị của chính phủ Lào,…

2905. Nguyễn Văn Tý (s.1925)

Nhạc sĩ, tác giả Bài ca năm tấn viết về t. Thái Bình. Quê ông ở t. Vĩnh Phúc, sinh tại Vinh (Nghệ An). Là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng từ thời kỳ KCCP. 1945, sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh niên Cứu quốc t. Nghệ An. 1948, công tác ở Đoàn văn hóa tiền tuyến thuộc Cục Quân huấn. 1950, nhận nhiệm vụ xây dựng đoàn văn công của Sư đoàn 304 và làm Trưởng đoàn. 1951, công tác ở Chi hội Văn nghệ Liên khu 4. Đầu 1961, biệt phái về t. Hưng Yên, 1967 về Hội Nhạc sĩ Việt Nam và từ 1975 chuyển về Viện Nghiên cứu âm nhạc thuộc Bộ Văn hóa.

Các tác phẩm chính: Pha màu luống cày, Mùa hoa nở , Dư âm (1950); Vượt trùng dương (1952); Việt Trung Xô, Mẹ yêu con (1956); Tiễn anh lên đường (1964); Bài ca năm tấn (1967); Em đi làm tín dụng (1971); Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa (1973); Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh (1974); Người đi xây hồ Kẻ Gỗ (1976); Cô nuôi dậy trẻ (1980); Dáng đứng Bến Tre (1980) …

2906. Nguyễn Văn Uy (1896-1933)

Thường gọi Đội Uy, người l. Bình An, tg Khê Kiều, h. Thư Trì (nay là th. Bình An, x. Hòa Bình, h. Vũ Thư). Trong chiến tranh thế giới thứ nhất bị thực dân Pháp bắt đi lính đưa sang Pháp. 1925 giải ngũ về quê dạy học, được Tống Văn Phổ giác ngộ cách mạng, tham gia VNCMTN từ 1927. Tháng 6-1929 được kết nạp vào ĐCS, cuối 1929 được bầu làm Bí thư  chi bộ Bình An, là người chỉ huy cuộc treo cờ Đảng tại bến phà Tân Đệ đêm ngày 6 rạng ngày 7-11-1929. Sau sự kiện này, thực dân Pháp bắt 13 người ở l. Bình An, trong đó có Đội Uy. Đầu 1933 được điều lên cơ quan Tỉnh ủy công tác. Sau vụ Vệ Hối phản bội chỉ điểm cho mật thám Pháp bắt đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Phạm Quang Lịch, cơ quan Tỉnh ủy vỡ vào 10-1933, Nguyễn Văn Uy bị bắt lên Thái Bình xét hỏi, tra tấn bằng nhiều cực hình, nát cả mười đầu ngón tay. Biết đồng chí không thể sống được nữa, chúng mới tha cho về. Về nhà được ít ngày, đồng chí đã hy sinh.

2907. Nguyễn Văn Vực (1909-1952)

Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình (1937-1940). Quê l. Kênh Son, nay lthuộc x. Minh Hưng, h. Kiến Xương. Đỗ sơ học yếu lược, 1927 thôi học ở tx. Thái Bình trở về quê, được Nguyễn Việt, bạn học cũ giới thiệu vào Hội VNCMTN, 7-1929, được kết nạp vào ĐCS, đã cùng chi bộ Đảng lãnh đạo quần chúng đấu tranh ủng hộ công nhân dệt Nam Định (4-1930), vận động nông dân đòi vay thóc cứu đói, tố cáo tội ác của giặc Pháp và bọn tay sai. 3-1931, bị địch bắt và bị quản thúc tại nhà, đã mở trường dạy học để tiếp tục hoạt động. 7-1937, tại hội nghị toàn tỉnh ở Vũ Lăng, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Từ đó, Thái Bình trở thành tỉnh có phong trào nông thôn mạnh nhất ở Bắc Kỳ. 4-1940, bị địch bắt đưa sang sở mật thám Nam Định, bị kết án 20 năm khổ sai, giam ở Hỏa Lò, Sơn La, rồi Côn Đảo. Cuối 8-1945, được đón về Nam Bộ, 10 - 1945 được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Lâm thời t. Sóc Trăng. Năm 1946, là Bí thư Khu ủy khu 9. Năm 1950 là Trưởng ban Nông vận miền Nam. Mất ngày 25-8-1952.

2908. Nguyễn Văn Xuy (1909 - 1940)

Quê x. Bình An, tg Khê Kiều, h. Thư Trì (nay thuộc x. Hòa Bình, h. Vũ Thư). Tốt nghiệp sơ học yếu lược. Cha mẹ mất sớm. Là học sinh lớn chăm chỉ và có nhận thức tốt, lại được thầy giáo Tống Văn Phổ dìu dắt và kết nạp vào VNCMTN từ 1927. Thường được giao nhiệm vụ liên hệ các mối phong trào ở một số nơi, như sang Đồng Đức cống Vực đến nhà ông Chi, xuống kênh đào Hồng Phong gặp đồng chí Phạm Quang Thẩm, có đợt đến tận các xã ven biển Thần Đầu, Thần Huống (Thái Ninh). 9-1929 được kết nạp vào ĐCS ở chi bộ Bình An. Sau đợt cắm cờ, rải truyền đơn nhân ngày quốc tế lao động 1-5-1930, bị mật thám Pháp bắt, kết án tù 8 năm, đầy ra Côn Đảo. 1936 ra tù, tuy vẫn bị quản thúc tại làng, đồng chí vẫn ngày ngày đi bán muối, kết hợp chắp mối phong trào. 1940 lại bị bắt đưa đi an trí ở Sơn La và mất tại nhà tù.

2909. Nguyễn Vi (1838 - 1889)

Thủ lĩnh chống Pháp, dân gian thường gọi Hiệp Vỡi, là hậu duệ An Khánh hầu thời Lê sơ, quê l. Hội Khê, nay thuộc x. Vũ Hội, h. Vũ Thư. Năm 20 tuổi, ông đầu quân, 4 năm sau thăng chức Quản suất đội và được điều về dẹp loạn hải tặc ở vùng biển Thái Bình - Nam Định. Năm 1867-1873, theo Ông ích Khiêm đi tiễu phí ở vùng Hưng Hóa, Sơn Tây, có công giật cờ, chém tướng giặc. Bình định xong phía tây bắc, ông trở lại p. Kiến Xương, được phong chức Chánh hiệp quản h. Vũ Tiên, rồi về nghỉ hưu. Pháp đánh thành Nam Định (1883), ông bán hết điền sản lấy tiền mua vũ khí, mộ dân binh sang cùng giữ thành. Ông băng bó vết thương cho Đề đốc Lê Văn Điếm, cõng vào thành, lại tiếp tục ra chiến đấu. Rồi, chính ông cũng bị thương. Thành mất, ông trở về quê, tiếp tục xây dựng căn cứ chống Pháp tại Cổ Ninh (Vũ Ninh), Tường An (Tân Hòa). Cuộc chiến đấu của ông đến năm 1889 thì bị dập tắt. Ông bị bắt, bị giết.

2910. Nguyễn Viêm (1691 - ?)

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái thứ 2 (1721), đời Lê Dụ Tông. Quê l. Mỹ Xá, nay là th. Mỹ Xá, x. An Quý, h. Quỳnh Phụ. Được bổ làm Tri huyện An Dương, sau thăng Hiến sát sứ Hải Dương, Đốc đồng Hưng Hóa. Ông luôn luôn nêu gương là một vị quan thanh liêm, trong sạch giữa thời Lê Trịnh nhiễu nhương. Ông về trí sĩ và mất tại quê nhà.

2911. Nguyễn Viết Hoành (1516 - ?)

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn Mạc Quang Bảo thứ 3 (1556). Quê x. Thủ Quốc, nay là th. Vang Thượng, x. An Thanh, h. Quỳnh Phụ. Buổi đầu sung chức Tham nghị trấn An Bang; sau thời gian ông xin cáo quan về quê dạy học, vua Mạc tức giận giáng ông xuống làm Tri huyện Vĩnh Bảo. Năm Bính Dần (1566), lại điều ông về làm Tế tửu Quốc Tử giám. Năm Tân Mùi (1572), lần thứ hai ông xin trí sĩ, vua Mạc vẫn muốn lưu giữ, ông cố chối từ. Ông về dạy học và mất tại l. Vọng Lỗ (x. An Vũ cùng huyện).

2912. Nguyễn Xá 阮 舍

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg An Lão, h. Thư Trì, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ. Cuối tk. XIX là x. Kiến Xá.

Xem: Kiến Xá (xã cũ - 2082).

2913. Nguyễn Xá 阮 舍

Phường cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Cao Mại, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Sau thuộc x. Mỹ Nguyên, tg Cao Mại, p. Kiến Xương. Nay thuộc x. Quang Trung, h. Kiến Xương.

2914. Nguyễn Xá 阮 舍

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Cổ Cốc, h. Thần Khê, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Hưng Yên, từ 1890 thuộc t.  Bình). Từ 1853 kiêng quốc tính chữ Nguyễn 阮 đổi là Nguyên Xá 元 舍. Đầu tk. XX thuộc tg Cổ Cốc, p. Tiên Hưng. Trong KCCP thuộc x. Nguyên  Xá, h. Tiên Hưng. Nay thuộc x. Nguyên Xá , h. Đông Hưng. Dân số 4936 người (1927). Tục lệ x. Nguyên Xá: 88tr., gồm 27 điều của 4 giáp đình Đoài 兌 lập ngày tháng 5 năm Cảnh Hưng 16 (1755); 13 điều của đình Thịnh 盛 lập ngày 16 tháng 12 năm Gia Long 4 (1805); 41 điều của 4 giáp đình Thượng 上 lập ngày 7 tháng Giêng năm Minh Mệnh 16 (1835); 1 điều lập thân vào ngày 27 tháng 11 năm Tự Đức 6 (1853); 5 lệ của cả 3 đình về việc Hậu Thần lập ngày 4 tháng ất Mão đồng nguyệt hạ năm Gia Long 18 (1819). Bản khai thần tích - thần sắc của xã năm 1938: gồm 14 đạo sắc phong, 1 thần tích; thờ: Cao Sơn, Quý Minh, Lê Triều Kiệt Tiết, An Dân Hộ Quốc, Uy Nghiêm Thanh Trạc, Lương Trương Anh Quả.  Hương ước làng Nguyên Xá năm 1942.

2915. Nguyễn Xá 阮 舍

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Tống Súc, h. Hưng Nhân, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 tr. Nam Định, 1831 t. Hưng Yên, 1894 t. Thái Bình). Từ 1853 kiêng quốc tính chữ Nguyễn 阮 đổi là Nhân Xá 仁 舍.

Xem: Nhân Xá (xã cũ - 2967)

2916. Nguyễn Xá thôn văn tự bi ký  阮 舍 村 文寺 碑 記

Bia dựng năm Cảnh Trị thứ 1 (1663 ) ở chùa x. Mỹ Nguyên, tg. Cao Mại, p. Kiến Xương (nay là x. Quang Trung, h. Kiến Xương). Bia hai mặt, khổ 0,67m x 0,40m. Gồm 41 dòng, khoảng 400 chữ. Nội dung: Ghi việc ông Nguyễn Tiến Hiền cúng tiền cho xã làm cầu đường, được bầu Hậu Thần.  Có quy định lệ cúng giỗ. Có bài minh ca tụng công đức. N. 3706/7.

2917. Nguyễn Xuân Hàm (1911-1993)

Quê th. Hưng Nhượng, x. Vũ Hội, h. Vũ Thư. Xuất thân trong một gia đình đại địa chủ, có truyền thống yêu nước. Chú ruột (Trần Cung), anh vợ (Phạm Quang Lịch) là những chiến sĩ Cộng sản xuất sắc của t. Thái Bình. Mẹ và các anh, em ruột đều có công với nước, một nhà được thưởng 5 Huân chương Độc lập hạng II và III.

Nguyễn Xuân Hàm tham gia cách mạng từ 1928, hoạt động trong Hội VNCMTN trường tư thục Minh Thành. Đêm 14/10/1930, cùng Nguyễn Văn Ngọ, Phạm Hữu Thủy treo biểu ngữ trước cửa rạp hát Thái Bình lên án thực dân Pháp đàn áp cuộc biểu tình của nông dân Tiền Hải.  Sau cả 3 người đều bị bắt. Tháng 9 /1931 tòa Thượng thẩm kết án Nguyễn Xuân Hàm 5 năm tù giam, 10 năm quản thúc. 1934 ra tù, 1939 bị bắt lần thứ hai, giam ở nhà tù Sơn La. 1941 ra tù, tiếp tục hoạt động. Sau Cách mạng tháng 8/1945, làm Chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời xã. 11/1945 - 6/1951: Ủy viên, rồi Chủ tịch UBKCHC h. Vũ Tiên; Bí thư chi bộ, rồi Bí thư Huyện ủy Vũ Tiên. 7/1951 -7/ 1953: Tỉnh ủy viên, thường trực Văn phòng Tỉnh ủy. 8/1953 - 2/1956: Chính ủy hậu cần Quân khu Tả ngạn. 3/1956 - 1/1958: Phó văn phòng Phủ Thủ tướng. 2/1958 - 4/1959: Giám đốc nhà máy xay Thái Bình. 5/1959 -12/1966: Trưởng ty Giáo dục Thái Bình. 1/1967-7/1979: Trưởng Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Thái Bình. Tỉnh ủy viên các khóa bầu 4/1951, 2/1959, 2/1961. Đại biểu Quốc hội khóa II (1960-1964). Nghỉ hưu từ tháng 8/1971. Huân chương: Kháng chiến hạng II, Độc lập hạng II. Huy hiệu 40 năm, 50 năm tuổi Đảng.

2918. Nguyễn Xuân Hoàng (1918-1987)

Trung tướng (1986). Tên khai sinh là Nguyễn Văn Bàn, quê x. Minh Tân, h. Kiến Xương. Tham gia cách mạng 1937, được kết nạp vào ĐCSVN 1938. 1942-1945, bị thực dân Pháp bắt giam ở Hỏa Lò và đầy đi Côn Đảo. Tháng 9-1945, phụ trách đào tạo cán bộ chính trị ở Khu IX. Tháng 3/1946 - 1948: Bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá. 9/1948 - 6/1950: P. Bí thư Khu ủy Khu IX, phụ trách báo chí, Trưởng phòng Chính trị Khu IX. Tháng 6/1950 - 1954: Trưởng phòng Chính trị, Chỉ huy phó khu Tây Bắc, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Tháng 7-1955, Cục phó Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Tháng 7-1956, Phó Giám đốc trường Chính trị trung cao cấp Quân đội. Tháng 6-1959, Chính ủy Bộ Tư lệnh pháo binh. Tháng 4/1961- 1966: Tổng biên tập Tạp chí Quân đội Nhân dân , Cục trưởng Cục xuất bản Tổng cục Chính trị; Chính ủy Học viện Quân chính, Chính ủy Bộ Tư lệnh pháo binh (1959-1961); năm 1966 Phó Chính ủy Quân khu IV, kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận B5 - Bắc Quảng Trị. Tháng 7/1969- 1978: Viện trưởng Viện Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng, kiêm P. Trưởng ban CP - 40, P. Trưởng Ban đối ngoại Trung ương, ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương. Năm 1978, Trưởng ban B68 giúp cách mạng Campuchia. Tháng 3 -1979, Viện phó Học viện Quân sự cấp cao. Tháng 8/1981 - 1983: Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam. Bà vợ là Bùi Thị Trường, Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên t. Bạc Liêu.

Huân chương: Hồ Chí Minh,  Độc lập hạng nhất, Quân công (2 hạng nhất, 1 hạng ba)…

2919. Nguyễn Xuân Huyên (1728 - 1775)

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thân Cảnh Hưng thứ 13 (1752). Quê l. Bung, x. Hoàng Xá,  nay là th. Thái, x. Nguyên Xá, h. Vũ Thư. Văn bia Tiến sĩ ghi là Nguyễn Dao. Hiệu Thư Hiên, thuở nhỏ chăm học đến nỗi trời mưa trôi hết chiếu thóc phơi ngoài sân mà không biết. Đi sứ nhà Thanh, làm quan ở viện Hàn lâm, Đốc trấn Cao Bằng, Tham chính Sơn Tây, Hàn lâm viện Thừa chỉ. Cuối đời được phong chức Hữu Thị lang Bộ Công, tước Thư Xuyên hầu. Hai con trai ông đều tham gia việc quân, ông thường căn dặn các con: “Đánh giặc mà không lo chống đói, không ngăn cấm binh lính lấy của dân thì cũng là giặc, cũng là nuôi cho giặc mạnh”. Theo ông “Đỗ Tiến sĩ rất khó” nhưng “Làm cho vua yêu dân, bớt thuế cho dân, quan văn không tham, võ tướng không để binh lính cướp của dân như vậy mới khó …”. Ông mất tại quê nhà, được phong làm Phúc thần. Bia mộ ông ghi rõ: “Cố Lê Tiến sĩ Thư Xuyên hầu”. Đền thờ ông còn giữ được sắc phong “Lê triều Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân hàm Vĩnh Lộc Đại phu; Công bộ Hữu Thị lang, Thư Xuyên hầu Nguyễn Quý Công, hiệu Thư Hiên Linh ứng Tôn thần”.

2920. Nguyễn Xuân Kính (s. 1952)

Giáo sư Văn học (2002), Tiến sĩ (1988), quê tp. Thái Bình. 1974 - 1984: Cán bộ nghiên cứu Viện Văn học và Ban Văn hóa dân gian. 1984-1988: Nghiên cứu sinh tại trường đại học Tổng hợp Quốc gia Matxcơva. 1991- 2004: Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian; Giảng viên kiêm nhiệm tại trường đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Từ 2005 đến nay: Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa thuộc Viện KHXHVN. Chủ trì các đề tài: Thi pháp dân gian (cấp Bộ); Khảo sát sự vận động của truyện kể dân gian và ca dao (cấp Bộ); Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 15 và tập 16 (cấp Bộ). Biên soạn sách công cụ về tục ngữ, ca dao. Hướng dẫn thành công 5 luận án Tiến sĩ và 19 luận văn Thạc sĩ. Công bố trên 50 bài báo, báo cáo khoa học chuyên ngành. Đã viết và tham gia viết 30 cuốn sách.

Tác phẩm chính: Ca dao Việt Nam (đồng soạn giả), 1983, tái bản nhiều lần; Thi pháp ca dao, 1992; Kho tàng ca dao người Việt (đồng chủ biên), 1995, tái bản 2001; Các tác giả nghiên cứu văn hóa dân gian (chủ biên), 1995; Kho tàng tục ngữ người Việt (chủ biên), 2002; Con người, môi trường và văn hóa , 2003.

2921. Nguyễn Xuân Lạc (s. 1935)

Giáo sư chuyên ngành kỹ thuật (1991), Tiến sĩ  (1978). Quê x. Thụy Văn, h. Thái Thụy. Công tác tại trường đại học Bách khoa Hà Nội. Bảo vệ luận án Tiến sĩ tại trường đại học Bách khoa Hà Nội, chuyên ngành Kỹ thuật. Đề tài luận án: “Cơ sở lý luận của phương pháp vận tốc (TVT) trong động lực và động tĩnh học cơ cấu phẳng”.

2922. Nguyễn Xuân Liêm (s. 1946)

Anh hùng LLVTND, quê th. An Liêm, x. Thăng Long, h. Đông Hưng. Khi được phong Anh hùng (15-1-1976) là đảng viên, Trung uý, Chính trị viên đại đội 1 thiết giáp, tiểu đoàn 21 Bộ Tư lệnh Miền.

Từng chiến đấu ở miền đông Nam Bộ từ 10-1974 đến 5-1975. Đã cùng đơn vị phát huy được sức mạnh đột kích của xe thiết giáp, diệt nhiều xe tăng và hoả điểm của địch, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong, nhanh chóng giành thắng lợi. Ngày 6-1-1975, tham gia đánh chiếm tx. Phước Long. Trận tiến công tx. Xuân Lộc ngày 9-4-1975, chỉ huy 4 xe yểm trợ cho bộ binh đánh vào hướng chủ yếu, bắn cháy 3 xe tăng, những chiếc còn lại phải bỏ chạy, quân ta làm chủ hoàn toàn sở chỉ huy Chiến đoàn 52 ngụy.

Được tặng thưởng  Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

2923. Nguyễn Xuân Tấn (s.1950)

Giáo sư Toán học (2007), Tiến sĩ khoa học (1987). Quê th. Vũ Xá, x. An Đồng, h. Quỳnh Phụ. Bố là liệt sĩ chống Pháp, mẹ làm ruộng. Quá trình học tập, công tác: Từ 1965-1968 học tại trường cấp III Phụ Dực, Thái Bình. 1968 -1975, học tại khoa Toán Lý trường đại học Tổng hợp Charl Praha, Tiệp Khắc (chuyên ngành Giải tích hàm, đề tài luận văn: Lý thuyết điểm bất động và ứng dụng, tốt nghiệp loại ưu). Từ 1975 đến nay làm việc tại Viện Toán học Việt Nam. 1982 được cử đi làm thực tập sinh khoa học tại Viện hàn lâm CHDC Đức, 1983 bảo vệ thành công luận văn Tiến sĩ với đề tài: Giải tích đa trị và ứng dụng, được Viện hàn lâm CHDC Đức cho học bổng ngoại lệ để làm TSKH. 1987 bảo vệ thành công luận văn TSKH tại Viện hàn lâm CHDC Đức với đề tài: Lý thuyết rẽ nhánh của các phương trình toán tử và ứng dụng trong vật lý bán dẫn. 1988 được CHLB Đức cấp học bổng Humbôn - một học bổng danh giá dành cho các nhà khoa học trẻ dưới 40 tuổi làm việc 2 năm đại học Cologne.

Được mời đi giảng bài tại các đại học: Delawe, Meryland, Wisconsin, Atlanta vào cỏc năm 1989, 1991; Calgary, Vancouver 1992. Ngoài ra còn được mời giảng tại các đại học Penang Malaysia, Changhua (Đài Loan), Varese, Milano (Italia). Có 51 công trình khoa học được đăng trên các tạp chí quốc tế, các bài báo này đã được 60 tác giả trên thế giới trích dẫn khoảng 100 lần. Đã viết 2 cuốn sách tham khảo. Nói thành thạo 4 ngoại ngữ: Anh, Đức, Tiệp, Pháp. Một số công trình khoa học tiêu biểu:

1. (with D.T. Luc) The Banach-Steinhaus theorem for M-convex multivalued mappings. Acta Math. Vietnamica , 5 (1980), N o 1, 161-168.

2. Quasivariational inequality in topological linear locally convex Hausdorff spaces. Math. Nachr ., 122 (1985) , 231-245.

3. Luc, D. T. ; Tan, N. X. Existence conditions in variational inclusions with constraints. Optimization 53 (2004), no. 5-6, 505-515. (Reviewer: Fabiỏn Flores-Bazỏn) 49J40 (47J20 47N10 49J53)

4. (with D. T. Luc and P. N. Tinh) Subdiff. Characterization of quasiconvex and convex functions. Vietnam J. of Math., 26 (1998), 53-69.

5. N.X.Tan, On the existence of solutions to systems of vector quasi-optimization problems. Math. Methods Oper. Res. 60 (2004), no. 1, 53-71.

2924. Nguyệt Giám 月 鋻

Xã cũ, đầu tk. XX thuộc tg Lịch Bài, h. Vũ Tiên, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Minh Tân, h. Kiến Xương. Nay là th. Nguyệt Giám, x. Minh Tân, h. Kiến Xương. Dân số 1571 người (1927). Đầu tk. XIX là x. Minh Giám.

2925. Nguyệt Hồ Vương

Địa danh chỉ cánh đồng Hồ Đầu l. Lưu Đồn, nay thuộc x. Thụy Hồng, h. Thái Thụy; đồng thời cũng là tên một thủ lĩnh nhà Trần là Nguyệt Hồ Vương (được chép trong sách Đại Việt sử ký toàn thư ).

Lưu Đồn vốn là căn cứ của Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo. Đầu năm 1407, nhà Minh xâm lược nước ta, nhà Hồ thất bại, một số tôn thất nhà Trần như Giản Định Đế, Trần Trùng Quang dấy binh từ Thanh Hóa ra Bắc để đánh giặc, một tôn thất là Trần Công đã đến căn cứ Lưu Đồn, xưng là Nguyệt Hồ Vương, đem quân ra cửa Lục Đầu-Chí Linh chống giặc.

2926. Nguyệt Lãng 月 朗

Xã cũ, đầu tk. XX thuộc tg Nội Lãng, h. Thư Trì, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Minh Lãng, h. Thư Trì. Nay thuộc x. Minh Khai, h. Vũ Thư. Dân số 607 người (1927).  Tục lệ x. Nguyệt Lãng : 24tr., gồm 22 điều lập ngày 17 tháng 3  năm Tự Đức 35 (1882); 2 lệ lập ngày 16 tháng 12 năm Đồng Khánh ất Dậu (1885). Tất cả được sao lại ngày 4 tháng 12 năm Duy Tân 9 (1915).

2927. Nguyệt Lâm  月 臨

Xã cũ, cuối tk. XIX thuộc tg Lịch Bài, h. Vũ Tiên, p. Kiến Xương, t. Nam Định (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Trong KCCP thuộc x. Tân Bình, h. Vũ Tiên. Nay thuộc x. Vũ Bình, h. Kiến Xương. Dân số 1432  người (1927).

2928. Nguyệt Lâm

Bến đò trên tả ngạn sông Hồng, còn có tên là đò cống Kem, thuộc địa phận x. Minh Giám, h. Vũ Tiên cũ, nay lấy bến sông Kem làm địa giới  chia thành 2 làng: Nguyệt Lâm cắt về x. Vũ Bình, Nguyệt Giám cắt về x. Minh Tân - đều thuộc h. Kiến Xương. Vì đôi bờ đều có tỉnh lộ sát đò, dân vùng duyên hải Nam Định, khách bộ hành Thái Bình đi Xuân Trường, Bùi Chu, Phát Diệm hầu hết đều qua bến sông này.

2929. Nguyệt Lâm

Chùa x. Vũ Bình, h. Kiến Xương; dựng cạnh gốc gạo cổ thụ trên đường từ th. Nguyệt Lâm đi th. Mộ Đạo, do 5 tín chủ lớn họ Nguyễn xây năm Tự Đức thứ 24 (1871), sửa chữa lại đầu niên hiệu Bảo Đại (1926). Gác chuông kiêm luôn vị trí tam quan. Chùa chính bố cục chữ “đinh”. Bái đường 3 gian. Hậu cung 2 gian. Nhà tổ 5 gian. Tăng xá 5 gian, đóng kèo cầu quá giang vượt, đóng cửa ba lô. Phía hồi chùa xây lầu bát giác, trong có tấm bia lớn khắc năm Tự Đức thứ 24 (1871). Trong chùa bầy đủ các ban tượng: Tam Thế, A - di - đà, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Quan Thế âm. Quý nhất là tòa Cửu Long chạm đủ 9 rồng, vòm động cân đối, bố cục hài hòa, cổ kính và thanh nhã.

2930. Nguyệt  Lâm

Cống dưới đê, tại km 189 + 720 đê tả Hồng Hà II, th. Nguyệt Lâm, x. Minh Tân, h. Kiến Xương. Xây dựng năm 2001 thay thế cống xây năm 1930.  Kích thước 3 cửa, cửa giữa rộng 5,00m, 2 cửa bên mỗi cửa rộng 2,00m,  cao trình đáy (- 2.80). Bằng bê tông  cốt thép, đá xây, dạng hộp lộ thiên. Cống được xây dựng lại theo dự án nâng cấp hệ thống tiêu nước Nam Thái Bình bằng vốn vay Ngân hàng châu á (ADB2). Tổng mức đầu tư là 18 tỷ đồng. Là cống đầu mối, có quy mô lớn, lấy nguồn nước tưới từ sông Hồng cho hệ thống thủy nông Nam Thái Bình diện tích tưới 9.900 ha. Có hệ thống cửa lấy phù sa ngay cả khi sông Hồng có lũ  cao. Giao thông thủy qua cửa giữa với thuyền, sà lan có tải trọng 50 tấn. Khu vực cống là nơi buôn bán, sản xuất các loại vật liệu xây dựng, thuyền bè qua lại tấp nập tạo ra một tụ điểm thuận lợi cho thương mại của các xã phía nam h. Kiến Xương.

2931. Nguyệt Lũ 月 縷 

Xã cũ, cuối tk. XIX là ấp Nguyệt Lũ thuộc tg Tân An, h. Tiền Hải, p. Kiến Xương, t. Nam Định. Đầu tk. XX là x. Nguyệt Lũ thuộc tg Tân An, h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. ái Quốc. Nay là th. Nguyệt Lũ thuộc x. Tây Tiến, h. Tiền Hải. Dân số 1143 người (1927). Bản khai thần tích-thần sắc x. Nguyệt Lũ (1938): 8 tr., thần: Tống Thái Hậu, Bản Thổ. Hương ước x. Nguyệt Lũ (1935): 7 tr. viết tay.

2932. Nguyệt Nga Công chúa phu nhân

Thần vốn là tiên ở trên mặt trăng, giáng xuống

trần làm con gái nhà họ Nguyễn ở châu Vạn Chân, p. Chân Định, đạo Sơn Nam. Một hôm bà Trần thị nằm mơ thấy mình nuốt mặt trăng, tỉnh dậy thì hoài nghi. Đến ngày 12 -1 năm Giáp Ngọ sinh ra Nguyệt Nương. Khi mới sinh, Nguyệt Nương  đã khôi ngô khác thường; càng lớn càng xinh đẹp, thông minh tài trí hơn người, tiếng tăm truyền khắp một vùng. Lúc bấy giờ Triệu Chân (người nhà Tống) giữ chức Độ kỳ ở Nam Bang, nghe tiếng Nguyệt Nương bèn xin cưới nàng làm Đệ tam cung phi. Hơn 10 năm sau thì cha nàng mất. Nguyệt Nương đưa cha về mai táng ở quê nhà. Thấy thế nước Nam đẹp bèn xây dựng 42 hành cung, cho dân các ấp được miễn trừ binh lương, thuế, dịch. Bà còn xin chọn đất Hương Lâm, h. Phù Vân, p. Thường  Tín làm đất hộ nhi và được vua chuẩn hứa. Sau đó bà trở về triều. Lúc bấy giờ nước Tống có nạn ngoại xâm, bà liền đem theo hai thị nữ xuống thuyền trở lại Nam Bang, tìm về quê cũ. Trên đường trở về quê hương, bà bị Hộ quan ép làm vợ, nhưng Nguyệt Nương đã nhảy xuống biển tự vẫn. Bà chết mà sắc mặt vẫn tươi như hoa. Dân bèn lập miếu thờ. Từ đó nổi tiếng linh ứng, dân làng  cầu được ước thấy. Trải các đời đều được gia tăng Thượng đẳng  âm thần và được phong là Nguyệt Nga  Công chúa phu nhân. (Thần tích)

2933. Ngư Phong thi tập

Sách chữ Hán. Tác giả Ngô Quang Bích (1832-1890). Đã được dịch và Nhà xuất bản Văn học in năm 1974, dưới tên sách Thơ văn Ngô Quang Bíc; Nxb Văn hoá Thông tin in năm 1996, dưới tên sách Ngư Phong và Tượng Phong thi văn tập.

2934. Ngư Phong tướng công truyện kí 漁 峰 相 公 傳 記

Bài tựa của tác giả viết năm Hàm Nghi thứ nhất (1885), Ngô Đức Dung 吾 德 庸 hiệu Tùng Linh 松 嶺 chép tặng Long Điền tiên sinh 龍 田 先 生 năm 1946. 1 bản viết, 126 tr. Khổ 27 x 13. VHv.2072. Nội dung gồm:

1. Ngư Phong Tướng Công truyện kí : tiểu sử, sự nghiệp Nguyễn Quang Bích, người thôn Nhất, xã Trình Phố, tổng An Bồi, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, đỗ Tiến sĩ năm Tự Đức 22 (1869).

2. Ngư Phong Tiên sinh thi tập 漁 峰 先 生 詩 集gồm thơ văn yêu nước, chống Pháp của Nguyễn Quang Bích. Một số tác phẩm của bạn bè tặng tác giả (có 1 bài của Tôn Thất Thuyết).

2935. Ngừ

Đình th. Ngừ, x. Liên Hiệp, h. Hưng Hà. Xây thời Lê, to, rộng và đẹp đẽ. 1962-1963 xuống cấp, bị giải ngõa lấy vật liệu làm kho HTX. 1995 sửa lại trên khuôn viên đình cũ, rộng 2.270 m 2 . Đình (mới) gồm 2 tòa, bố cục chữ “nhị”, tường xây hồi văn cánh bảng, hiên đóng cửa khay thượng song hạ bản, nội thất làm kiểu lòng thuyền, kèo kẻ, có chạm hoa lá nhưng đơn giản. Hậu cung 1 gian 2 trái, lắp vì kèo kẻ, bào trơn đóng bén. Đình thờ Thành hoàng làng và Thái sư Trần Thủ Độ. Được xếp hạng DTLS cấp Quốc gia (2006).

2936. Ngự Thiên

Di tích, thuộc h. Hưng Hà cũng là tên một huyện thời Trần. Thời thuộc Minh là h. Tân Hóa, p. Trấn Man. Lý Nhân Tông đã 3 lần về xem gặt, gieo hạt, dự lễ đắp đàn tế trời.... Dân gọi đàn vua 3 lần ngự xem là “Ngự đàn”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: tháng 12 năm Đại Định thứ 17 (1156)... xây cung Ngự Thiên. “Chưa có công trình nào tốn kém bằng công trình này. Than ôi, công ơn của nhà Lý đến đây là hết!" - Ngô Sĩ Liên. Đủ biết cung Ngự Thiên to lớn lộng lẫy đến nhường nào! Năm 1560, mới dựng xong. Rất tiếc, không rõ năm nào, đê sông Hồng bị vỡ, ấp Ngự Thiên bị nước xoáy thành vụng đầm, vì thế về sau có tên l. Đìa (đầm, đìa), nên cung Ngự Thiên trên ấp Đìa (còn có tên Mang Nhân, Hưng Nhân - nay thuộc x. Hồng An, h. Hưng Hà) không còn dấu tích cũ.

2937. Ngự Thiên 御 天

Huyện cũ, thuộc p. Long Hưng thời  Trần. Thời kỳ nhà Minh đô hộ đổi là h. Tân Hóa thuộc p. Trấn Man. Nhà Lê lấy lại tên cũ là h. Ngự Thiên thuộc p. Tân Hưng (sau đổi là Tiên Hưng). Năm Gia Long thứ 7 (1808) đổi là h. Hưng Nhân thuộc p. Tiên Hưng. Các đời sau vẫn giữ như thế.  Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi (đầu tk. XV), h. Ngự Thiên có 51 xã. Bản đồ Hồng Đức (1490) ghi h. Ngự Thiên có 48 xã 4 trang.  Trong Dư địa chí của Phan Huy Chú (cuối tk. XVIII), h. Ngự Thiên có 49 xã 2 thôn 4 trang.

Xt: Hưng Nhân (huyện cũ - 1945)

2938. Nha

Đình th. Nha, x. Đông Xuân, h. Đông Hưng. Thờ Quý Minh Đại Vương . Tương truyền thời Trần là miếu thờ, đời Lê xây sửa thành đình, tọa lạc trên khuôn viên rộng 860 m 2 ao hồ và 575 m 2 vườn cảnh, đại tu và mở rộng năm Thành Thái thứ 13 (1902), gồm  cổng hoành mã, 2 nhà tả vu, hữu vu (mỗi tòa 3 gian) và khu đình thờ gồm 2 tòa, bố cục chữ “nhị”. Đại bái 5 gian. Hậu cung 3 gian.

Đồ thờ tự còn khá phong phú, đủ cuốn thư, đại tự, ban thờ, ngai, khám, kiệu, chấp kích và các đồ tam sự, thất sự bằng đồng, quý nhất là tấm bia đá niên hiệu năm Chính Hòa thứ 20. Được xếp hạng DTLS cấp tỉnh (2004).

2939. Nha Xuyên 衙 川

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Phúc Khê, h. Thanh Quan, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Phúc Khê, p. Thái Ninh, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Phúc Khê, h. Thái Ninh. Nay thuộc x. Thái Phúc, h. Thái Thụy. Dân số 634  người (1927). Địa bạ x. Nha Xuyên khai tháng 3 năm Thành Thái 12 (1900), gồm công tư điền thổ 448 mẫu; trong đó công điền 199 mẫu; tư điền 35 mẫu; đất hạng 2, 40 mẫu. Theo nghị định của Kinh lược Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải ngày 27 tháng 9 năm Thành Thái thứ tư (1892), điền thổ x. Nha Xuyên “nguyên sổ là 423 mẫu dư, bỏ hoang 270 mẫu”. Chánh tổng Nguyễn Quang Đạt và phó tổng Vũ Văn Phán ở x. Tuân Nghĩa, tg Tân Bồi, h. Tiền Hải xin được cấp 70 mẫu của x. Nha Xuyên, cùng với 104 mẫu của x. Kỳ Nhai,  để lập ra 1 làng gọi là trại Nghĩa Hòa sáp nhập vào x. Tuân Nghĩa, tg Tân Bồi. Tục lệ x. Nha Xuyên: 6tr., gồm 10 lệ lập ngày 18 tháng 8 năm Đồng Khánh 1 (1886). Hương ước x. Nha Xuyên (1936): 25 tr. viết tay. Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 16 tr., 18 tr. chữ Hán; 19 đạo sắc phong; thần: Đoàn Thượng, Nguyễn Phục và Kiêu Bảo. Đông Hải Đại Vương  Đoàn Thượng là người anh hùng quật khởi thời cuối nhà Lý, bị Nguyễn Nộn lừa mà hi sinh, khi chết còn đường đường khí tiết. Nhị giáp Tiến sĩ Nguyễn Phục là một trong những ông tổ nghề tằm tơ, một người bị giết oan trong việc vận chuyển quân lương đánh Chiêm Thành thời Lê Thánh Tông.

2940. Nhà bà Cửu Chí

Trạm liên lạc của Tỉnh ủy Thái Bình, ở cạnh cống sông Bồ Xuyên (nay là địa điểm Xí nghiệp may 14-10, đường Lý Thường Kiệt, tp. Thái Bình), vốn là nơi học trò nghỉ trọ, sau ông Nguyễn Văn Ngọ, Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình phụ trách thị xã và Vũ Tiên, Thư Trì dùng làm nơi làm việc, đặt trạm liên lạc thứ hai, tổ chức ấn loát truyền đơn. Ngoài ra, các ông Phạm Huề Chùy, Nguyễn Xuân Hàm, Nguyễn Văn Đang, Nguyễn Duy My (Tư My) cũng được Tỉnh ủy Thái Bình phân công đến làm nhiệm vụ tại địa điểm này.

2941. Nhà số 6 Rue Armand Rousseau

Địa điểm liên lạc thứ nhất của Tỉnh ủy Thái Bình, nguyên là cửa hàng Nón chợ Bo (nay là lối rẽ vào Trung tâm Thông tin công tác tư tưởng, đường Lý Thường Kiệt, tp. Thái Bình), do mẹ con bà Bùi Thị Thân phụ trách. Tháng 8-1930, đồng chí Trần Phú trên đường đi khảo sát phong trào nông dân để viết Luận cương chính trị đã đến nhà số 6 phố này làm việc với Tỉnh ủy Thái Bình, được gia đình bà Thân chăm sóc, bảo vệ chu đáo.

2942. Nhà thi đấu TDTT tỉnh

Cạnh sân vận động, trên đường phố Hai Bà Trưng, trong khu trung tâm các công trình TDTT tỉnh. Được xây dựng từ năm 1983, đưa vào sử dụng năm 1985, phục vụ khai mạc Giải bóng chuyền 3 nước Đông Dương do ủy ban TDTT cho đăng cai tổ chức. Nhà tập luyện được xây dựng bằng vật liệu hiện đại lợp tôn, mặt sàn gỗ đủ tiêu chuẩn thi đấu quốc gia, quốc tế. Đã 2 lần cải tạo sửa chữa, mở rộng mặt sàn, sức chứa 1500 khán giả. Khu khán đài A lắp đặt ghế nhựa. Nhà thi đấu TDTT tỉnh phục vụ việc luyện tập và tổ chức thi đấu giải môn bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, vật, võ của địa phương, toàn quốc, quốc tế.

2943. Nhà văn hóa Đông Hưng

Khởi công xây dựng từ 1976 đến 2-9-1978 khánh thành. Được Bộ VHTT chọn xây điểm cấp huyện đầu tiên trong cả nước. Tổng diện tích 3.200 m 2 , trong đó  NVH 2.000 m 2 , còn lại là sân bãi hoạt động thể dục, thể thao. Có thư viện, sân lớn, phòng khán giả 600 chỗ ngồi. Hệ thống tăng âm,  ánh sáng tương đối hiện đại.

Trụ sở: Trung tâm ttr. Đông Hưng.

2944. Nhà văn hóa Hưng Hà

Khánh thành 1981. Tổng diện tích là 3000 m 2 , diện tích sử dụng 700 m 2 , gồm có Thư viện trên 1000 đầu sách các loại, Phòng truyền thống. Hội trường gồm có 500 ghế ngồi có sân khấu và các thiết bị phục vụ cho hoạt động biểu diễn văn nghệ thuật.

Trụ sở: Cạnh đường 39 A, cách tp. Thái Bình 28 km.

2945. Nhà văn hóa Kiến Xương

Thành lập 1980. Diện tích 6000m 2 . Tên gọi hiện nay là Trung tâm VHTTTT h. Kiến Xương. Biên chế 15 người, được tổ chức thành 5 bộ phận gồm: Đội thông tin lưu động, thư viện, văn hoá cơ sở, thể thao, hành chính kế toán. Gần 30 năm qua, các thế hệ cán bộ Nhà văn hoá h. Kiến Xương đã có những đóng góp đáng ghi nhận trong nhiệm vụ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và nâng cao đời sống văn hoá của các tầng lớp nhân dân h. Kiến Xương.

Trụ sở: Ttr. Thanh Nờ, h. Kiến Xương.

2946. Nhà văn hóa Quỳnh Phụ

Thành lập 7-1985, diện tích khoảng 7200 m 2 , gồm: Nhà văn hóa, Thư viện, nhà ở của cán bộ công nhân viên, nhà kho và sân thể thao. Diện tích sử dụng 1000 m 2 , có sân khấu lớn và hội trường khán giả 750 ghế ngồi. Năm 2005, được tu sửa nâng cấp với số tiền gần 1 tỷ đồng. Có chức năng chỉ đạo tổ chức hướng dẫn phong trào cho các cơ quan ban ngành và 38 xã, phường, thị trấn, đồng thời hoạt động tại chỗ, phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Được tặng Huân chương Lao động hạng III.

Trụ sở: Trung tâm ttr. Quỳnh Côi

2947. Nhà văn hóa Thái Thụy

Tổng trên diện tích gần 5000 m 2 , hội trường lớn có sân khấu, các phòng hóa trang; thư viện có phòng bạn đọc và thông tin báo ảnh diện tích 52 m 2 . Hoạt động từ 8-1979, đến tháng 4-1989 thành lập Trung tâm VHTT.

Trụ sở: Trung tâm ttr. Diêm Điền

2948. Nhà văn hóa Tiền Hải

Tổng diện tích mặt bằng 4550 m 2 , trong đó diện tích sử dụng là 2500 m 2 . Thành lập ngày 14-10-1985, có nhiệm vụ chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn phong trào trong huyện và phục vụ các nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Hiện đang xây mới

Trụ sở: Trung tâm ttr. Tiền Hải

2949. Nhà văn hóa Vũ Thư

Thành lập năm 1983. Ngày 25-12-1992 thành lập Trung tâm VHTT Vũ Thư. Tổng diện tích 3500 m 2 , trong đó có 1500 m 2 sử dụng. Cơ sở vật chất  gồm sân khấu biểu diễn và phòng khán giả 700 chỗ ngồi, một số phòng làm việc và tập luyện chuyên môn, có hệ thống âm thanh, ánh sáng. Trung tâm văn hóa Thể thao nằm trong quần thể văn hóa gồm có Thư viện, Đài tưởng niệm, Quảng trường có sức chứa 6.000 -7.000 người.

Trụ sở: Trung tâm ttr. Vũ Thư.

2950. Nhà văn hóa lao động

Khánh thành 4-11-1994. Diện tích 10.816m 2 , trong đó diện tích hoạt động 3736m 2 , sân vườn 7080m 2 . Hoạt động theo quy chế của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Có các chức năng nhiệm vụ: Là trung tâm văn hoá thể thao, trung tâm tập hợp giáo dục CNVCLĐ, trung tâm bồi dưỡng văn hoá cơ sở, trung tâm phục vụ các nhiệm vụ chính trị của tỉnh và tổ chức công đoàn, tổ chức các hoạt động văn hoá thể thao, tổ chức các hoạt động có thu…Hiện nay biên chế 17 người, được tổ chức thành 5 phòng: Nghiệp vụ, kỹ thuật, hành chính, bảo vệ, tài chính.

Trụ sở : Đường Lý Bôn, tp. Thái Bình.

2951. Nhà văn hóa thiếu nhi

Thành lập 18-4-1998 trên cơ sở chuyển giao và nâng cấp nhà văn hoá thiếu nhi tx. Thái Bình. Diện tích 10.000m 2 . Có chức năng nhiệm vụ: Tập hợp, thu hút mọi tầng lớp thiếu nhi tới tham gia học tập, sinh hoạt và hoạt động đội. Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu văn nghệ, thể thao cho thiếu nhi trong tỉnh. Hướng dẫn phương pháp công tác hội. Nhà văn hoá thiếu nhi t. Thái Bình duy trì thường xuyên các câu lạc bộ: Kèn đồng, trống,  chèo, hát, tuyên truyền măng non…

Trụ sở: 21, đường Lê Lợi, tp. Thái Bình.

2952. Nhà văn hóa trung tâm tỉnh

Thành lập ngày 25-8-1981. Có chức năng nghiên cứu, thể nghiệm các mẫu hình, phương pháp và hình thức hoạt động, chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho các Trung tâm VHTT-TT các huyện, thành phố và phong trào văn nghệ quần chúng, nhà văn hóa, câu lạc bộ trong địa bàn tỉnh. Tổ chức hoạt động văn hóa văn nghệ phục vụ các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tuyên truyền đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, giải trí, sáng tạo văn hóa, nghệ thuật, thu nhận thông tin của quần chúng. Tổ chức các hoạt động văn hóa-văn nghệ lưu động và tại chỗ để định hướng và nâng cao thị hiếu thẩm mỹ và phát triển sự nghiệp. Được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng III, hạng II.

Trụ sở: Số 98 phố Hai Bà Trưng, tp. Thái Bình.

2953. Nham Lang 岩 廊

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Hồng Vũ, h. Hưng Nhân, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 tr. Nam Định, 1831 t. Hưng Yên, 1894 t. Thái Bình).

Đầu tk. XX thuộc tg Hiệu Vũ, h. Hưng Nhân, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Cấp Tiến, h. Hưng Nhân. Nay thuộc x. Tân Tiến, h. Hưng Hà. Dân số 598 người (1927). Tục lệ x. Nham Lang : 10 tr., gồm 7 lệ, lập ngày 11 tháng 10 năm Duy Tân 6 (1912),  sao lại ngày 7 tháng 6 năm Duy Tân 9 (1915). Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 3 tr.; thần Đông Hải.

Vị trí làng Nham Lang (1933)

2954. Nham Lang

Cống dưới đê, tại km 10 + 800 đê hữu  sông Luộc, th. Nhâm Lang, x. Tân Tiến, h. Hưng Hà.  Xây dựng năm 1933, đại tu năm 1989, là cống tưới lớn nhất tỉnh,  rộng 9,00m,  cửa giữa rộng 6m, 2 cửa bên mỗi cửa 1,5 m, cao trình đáy (-2.25); dài 42m. Bằng bê tông cốt thép dạng hộp, lộ thiên. Cửa giữa phía hạ lưu có cánh chữ “nhân” bằng bê tông, cửa bên có 3 tầng cánh (2 tầng cánh phẳng, 1 tầng cánh van nồi đường kính 1.20m). Đóng mở bằng tời và vít me. Để cấp nguồn nước tưới  từ sông Luộc cho hệ thống thủy nông bắc Thái Bình, lấy phù sa, giao thông thủy từ sông Luộc vào nội đồng. Hàng năm, sau mùa lũ tiến hành bảo dưỡng, sơn cánh, nạo vét sa bồi cửa sông. Chất lượng cống ở mức trung bình.

Cống Nham Lang (1934)

2955. Nham Lang

Đồn lập tháng 10-1950, nằm sát cống Nham Lang, thuộc th. Nham Lang, x. Tân Tiến, h. Hưng Nhân, nay là h. Hưng Hà. Quanh đồn có 3 hàng rào bằng tre nguyên cây buộc dây thép gai chắc chắn cao 2.5 m, mỗi hàng cách nhau 5m, ra vào đồn có 2 cổng đặt 2 vọng lính gác, giữa có lô cốt cao 3 tầng bằng gạch, tầng trên là đài quan sát, tầng giữa là các lỗ châu mai chiến đấu, tầng dưới vừa để ở và dùng để cất giấu vũ khí, phía ngoài có 3 ụ súng ở 3 góc đồn nối liền với các giao thông hào sâu 1,2m liên hoàn ra bờ sông Luộc

Quân số địch có 50 tên, hầu hết là lính ngụy, do thiếu úy Lục chỉ huy, vũ khí có 1 khẩu ĐKZ, 1 khẩu cối 60 và 14 súng trường, mìn 3 hòm. Đêm 8-4-1951, dân quân du kích phối hợp với bộ đội C38 (đại đội Đề Thám, bộ đội tỉnh) tổ chức đánh bốt trận kỳ tập “nội công, ngoại kích”. Kết quả ta diệt 4 tên, bắt sống 50 tên thu toàn bộ vũ khí quân trang quân dụng; buộc chúng phải rút khỏi bốt ngày 9-4-1951. Ta tiếp quản và làm chủ địa bàn.

2956. Nham Lang

Kè lát mái, tại km 10 + 800 đến 11 + 800 đê hữu sông Luộc, th. Nham Lang, x. Tân Tiến, h. Hưng Hà. Xây dựng năm 1968, bằng đá hộc xếp khan mái, thả rồng và gieo đá giữ chân, chiều dài 1000m, cao trình đỉnh (+ 4.00) và chân (- 800). Nằm ở đầu đoạn sông cong lõm, chủ lưu sát chân, thường gây xói lở, và tụt đá đoạn đầu. Cống Nhâm Lang  ở phía đầu kè, tạo thành 1 cụm công trình đê điều quan trọng xếp vào loại  sung yếu số 1.

2957. Nhãn (Euphoria Longana lamk )

Cây ăn quả lưu niên, họ Bồ hòn ( Sapindaceae ) thân gỗ, cao đến 10m. Vỏ cây sù sì màu xám. Có nhiều cành lá um tùm, xanh quanh năm. Lá kép hình lông chim, cách. Hoa màu vàng nhạt, thành từng chùm ở đầu cành hay kẽ lá. Quả tròn, vỏ màu xám, cùi màu trắng trong, hạt đen. Mùa hoa vào tháng 1¸2, thu hoạch quả vào tháng 7¸8. Trồng bằng hạt hoạc chiết cành. Nhãn trồng để lấy quả ăn tươi, sấy khô hoặc để làm vị thuốc (gọi là long nhãn). Thành phần hoá học quả tươi: nước 86,3%, gluxit 11%, prôtít 0,1%, vitamin C 58mg%, canxi 21mg%, phốt pho 12mg%. Tỉ lệ nhãn khô so với nhãn tươi là 10¸12%. ở Thái Bình, cây nhãn đã được trồng từ lâu, nhưng phân tán. Trồng nhiều ở h. Hưng Hà. Các giống nhãn phần lớn là giống địa phương (nhãn thóc), có chất lượng quả không cao. Gần đây đã đưa một số giống mới vào trồng như nhãn lồng Hưng Yên, nhãn Trữ Lương (Trung Quốc), diện tích trồng nhãn tăng lên, trồng tập trung trên đất tận dụng. Song thu hoạch kém

Tin mới ...
Tin cũ hơn ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 0 đánh giá

Album ảnh, Đại Hội VIII - Hội đồng hương Thái Bình CHLB Đức, Berlin 16.05.2016

Thanh niên & Sinh viên Thái bình

Tin hội đồng hương thái bình chlb Đức

Hát xẩm - Hồng Tươi - Hoàng Thị Dư - Xuân Phương - Trà Giang

Tỷ giá - Thời tiết

Tỷ giá

Thông tin thời tiết

   

Back To Top