Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Từ điển Thái Bình » "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 3365-3529, Q - T)

Từ điển Thái Bình

"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 3365-3529, Q - T)

Ngày đăng: 31/07/2013 In trang

"Ông Nguyễn Quang Ân là nhà sử học, công tác tại Viện Sử học Việt Nam. Từ năm 1998 ông là Giám đốc Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông Ân là tác giả và đồng chủ biên tác phẩm Từ điển Thái Bình và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn sử học khác. Ông đã góp ý kiến và nhiệt tình gửi tới BBT một số tác phẩm đã xuất bản về quê hương Thái Bình để giúp BBT có tài liệu tham khảo, tuyên truyền giới thiệu tới bà con đồng hương xa nhà.
Xin quý bạn đọc lưu ý mấy điểm như sau:
1/ Về nội dung và thứ tự các mục từ hoàn toàn theo bản in ở trong nước.
2/ Về hình thức có sự thay đổi như: thứ tự số trang, phông chữ và tên mục từ không dùng chữ in hoa như bản in.

3/ Do điều kiện kỹ thuật trình bầy trên trang web không thể đưa chữ Hán Nôm và cũng không thể đưa hết các ảnh minh họa ở nhiều mục từ như sách đã in.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Quang Ân đã có tâm huyết và gửi tặng cho dhthaibinh.de bộ sách "Từ điển Thái bình" này và mong rằng bạn đọc của dhthaibinh.de sẽ hiểu hơn nữa về quê hương Thái Bình chúng ta".

Cuốn "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập gồm 4990 mục từ, 1300 trang in khổ 19x27cm do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo biên soạn; Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên; Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2010.

Chúng tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc toàn tập của cuốn từ điển qúy giá này.

***


Tiếp theo...

3365. Quang Lang

Chùa x. Thụy Hải, h. Thái Thụy. Tên chữ là “Hưng Quốc tự”. Tương truyền, thời thuộc Lương, Lý Bôn từng được lão tăng chùa l. Quang Lang tế độ. Khi xưng đế, vua Lý Nam Đế ban tự danh: Hưng Quốc để ghi công ngôi chùa có công hưng quốc Vạn Xuân.

Chùa hiện tại xây sửa lại vào các năm Quang Hưng thứ 6 (1584), năm Chính Hòa thứ 7 (1642), đại tu vào các năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), Thành Thái thứ 14 (1902), tọa lạc trên khuôn viên rộng 8.450 m 2 . Chùa gồm 2 tòa, 10 gian, bố cục kiểu chữ “đinh”. Tòa ông Hộ rộng 5 gian. Điện Phật 5 gian. Tượng pháp và đồ thờ tự phong phú, trang hoàng đẹp. Hệ thống bát bộ Kim Cương có hồn, đáng liệt vào hàng đứng đầu các tượng Kim Cương trong tỉnh. Tượng Phật Cửu Long cũng đẹp. Cạnh chùa còn xây thêm 3 gian Phủ mẫu. Được xếp hạng DTLS cấp Quốc gia (1990).

3366. Quang Lang

Cống dưới đê, tại km 30+650 đê biển số 8, th. Quang Lang, x. Thụy Hải, h. Thái Thụy. Xây dựng năm 1999 thay thế cống cũ xây năm 1965. Rộng 1,80m, 1 cửa, cao trình đáy (-0.50). Dài 13,20m. Bằng bê tông cốt thép, dạng hộp, lộ thiên. Cách van thép, đóng mở bằng vít me. Để tiêu nước và lấy nước từ biển cho đồng muối của th. Quang Lang, x. Thụy Hải, diện tích 19 ha; đồng muối này đang có kế hoạch chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ hải sản.

3367. Quang Lịch

Xã thuộc h. Kiến Xương, cách ttr. Kiến Xương 7km về phía Tây. Thành lập năm 1949, gồm 5 thôn. Năm 1955, tách An Cơ, Tử Tế về x. Thanh Tân, x. Quang Lịch còn lại 3 thôn: Luật Nội, Luật Ngoại, Luật Trung. Năm 2003, tổ chức lại thành 3 thôn như cũ. Diện tích tự nhiên 447 ha. Dân số 5224 nhân khẩu, gồm  1701 hộ với.

Đất đai không bằng phẳng, nằm cạnh sông Hoàng Giang, thuận lợi việc tưới tiêu. Nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông. Nghề thủ công đan chiếu cói xuất khẩu. Còn bảo tồn 13 đình, chùa, đền, miếu, trong đó có đền và đình làng Luật Nội, Luật Ngoại được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp nhà nước. Tại Luật Trung, các nhà nghiên cứu chèo đã tìm thấy bản chèo cổ viết vào thời Mạc Diên Ninh, là bản chèo đầu tiên ghi bằng ký tự (1555). Xã có 122 liệt sĩ, 74  thương binh, 2 Lão thành cách mạng, 4 Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

3368. Quang Minh

Xã thuộc h. Kiến Xương, thành lập năm 1955, gồm 2 thôn Lai Thành (Lai Vè) và Lai Vi (trong kháng chiến thuộc x. Quang Bình). Năm 2003, tổ chức lại thành 5 thôn: Lai Vi, Bạch Đằng,Thống Nhất, Chi Lăng,Giang Tiến. Cách ttr. Thanh Nê 3 km. Diện tích tự nhiên 472 ha. Dân số 5470 nhân khẩu, gồm 1565 hộ.

Hạ tầng cơ sở nông thôn và đời sống nhân dân ở vào mức trung bình của huyện. Là một xã thuần nông, độc canh cây lúa. Có sông Kem chảy quanh dài 3 km, có 2 cống lớn trên đê. Có Di tích lịch sử văn hoá cấp nhà nước là đình Lai Vi, Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh là chùa l. Lai Vi. Hàng năm mở hội truyền thống vào ngày 15 tháng Giêng và ngày 15 tháng 3 với các trò thi bơi, chạy, kéo co. Có 106 liệt sĩ, 70 thương binh, 2 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 2 gia đình có công với nước, 4 Lão thành cách mạng, có liệt sĩ - Anh hùng LLVTND Đặng Tiến Lợi. Gần 500 Huân, Huy chương các loại.

3369. Quang Trung

Phố, vốn là đoạn đường 10 - đường liên tỉnh Nam Định - Thái Bình - Hải Phòng. Tháng 12-1984, tỉnh đã hoàn chỉnh và mở rộng đoạn từ ngã tư An Tập đến cống Trắng lấy tên 30-6, kỷ niệm ngày giải phóng tx. Thái Bình. Được đổi thành phố Quang Trung từ  ngày 9-9-2003.

Phố dài 2,5km, nền đường 24m, mặt đường 16m, chạy theo hướng đông bắc - Tây nam (từ ngã tư An Tập đến Cống Trắng), sau chuyển sang hướng Đông - Tây, qua địa phận ph. Đề Thám và ph. Quang Trung. Điểm đầu giáp ngã tư An Tập, điểm cuối đến ngã ba Phúc Khánh. Đường trải bê tông nhựa kiên cố. Vỉa hè, mặt bờ sông rộng đều lát gạch xi măng tự chèn, trồng cây bóng mát.

Quang Trung (1753-1792): Anh hùng dân tộc, Hoàng đế triều Tây Sơn. Gốc người h. Hưng Nguyên (Nghệ An), định cư tại Tây Sơn (Bình Định). Năm 1771, ba anh em ông là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã chiêu tập nghĩa quân chống lại triều đình nhà Nguyễn. Ông đã 4 lần mang quân vào Gia Định, 3 lần ra Thăng Long. Phía Nam, ông diệt họ Nguyễn, đập tan 2 vạn quân Xiêm. Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng Đế, ông được phong Bắc Bình Vương. Năm 1788, ông lên ngôi Hoàng Đế, hiệu là Quang Trung (nên cũng gọi là vua Quang Trung), đem 10 vạn quân ra Bắc dẹp tan 20 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ  Nghị cầm đầu.

3370. Quang Trung

Phường thuộc  tp. Thái Bình, thành lập tháng 9-1981 với 26 tổ dân phố. Xưa là l. An Chính và An Tập, tg Lạc Đạo, h. Vũ Tiên. Năm 2004, tx. Thái Bình lên thành phố, ph. Quang Trung có 51 tổ dân phố. Diện tích 149,3 ha, chủ yếu là khu dân cư. Dân số 15.121 nhân khẩu, gồm 3866 hộ.

Trên địa bàn phường có tới 60 cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện. Đường Quang Trung trước đây là 1 đoạn của quốc lộ 10. Nhân dân trong phường chủ yếu là cán bộ viên chức nhà nước còn đang công tác hoặc đã nghỉ hưu (80% dân số); chỉ có một số hộ kinh doanh buôn bán. Có dịch vụ nuôi cá giống. Xưa trên đất của phường có Đồng Bo, tương truyền do Trần Lãm sai Đinh Bộ Lĩnh đắp chỉ trong một đêm cao tới 1 trượng, nay không còn. Phường có 7 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 188 liệt sĩ, 271 thương bệnh binh, 10 Lão thành cách mạng (2 trong số đó là cán bộ tiền khởi nghĩa), 3185 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại, 2 Anh hùng LLVTND.

3371. Quang Trung

Xã thuộc h. Kiến Xương, cách ttr. Thanh Nê 5km về phía nam. Thành lập năm 1947, gồm các thôn: Cao Mại Đoài, Mỹ Lạc (còn có tên l. Nguyễn, l. Thượng Phúc), Mỹ Nguyên, Trà Xương Đoài, Trà Xương Đông. Năm 2003, tổ chức lại 5 thôn với tên gọi: Cao Mại Đoài, Mỹ Nguyên, Thượng Phúc, Trà Đông, Trà Đoài. Diện tích tự nhiên 634 ha. Dân số 8872 nhân khẩu, gồm 2474 hộ.  Là xã nội đồng, độc canh cây lúa nhưng là xã ổn định về đời sống kinh tế và xã hội. Xã có truyền thống trồng thuốc lào. Một số hộ làm nghề kết hạt cườm, móc sợi làm túi, một số hộ làm đất, làm nghề mộc, nề, máy tuốt lúa.

Có sông Kiến Giang, Lâm Giang chảy qua, lại có 4 sông trong nội đồng, có 1 cầu, 7 cống... Còn bảo tồn được 5 đình, 6 chùa, trong đó đình Thượng Phúc được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp nhà nước, 4 đình còn lại được xếp hạng cấp tỉnh. Cả 5 thôn đều có lễ hội truyền thống. Quang Trung là đất thượng võ, trong lễ hội l. Thượng Phúc bao giờ cũng có vật võ, kéo co, chọi gà... Có 192 liệt sĩ, 94 thương binh, 6 Lão thành cách mạng, 5 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, một người được phong cấp tướng, 728 người được thưởng Huân, Huy chương các loại.

3372. Quảng Lợi 廣 利

Thần thờ ở đền x. An Chính, tg Lạc Đạo, h. Vũ Tiên (nay thuộc ph. Quang Trung, tp. Thái Bình). Sự tích : Thủy thần ở biển Nam Hải là Quảng Lợi Đại Vương. Đời Lê, vì kiêng húy chữ Lỵ (Lợi) nên triều đình phong sắc cho thần là Quảng Lại Vương. Đời Hồng Đức (1470-1496), thần được gia phong là Quang Linh Quảng Lại Vương, được hưởng quốc tế. Các triều sau đều có phong sắc phong.

Thái Bình tỉnh thần tích (Q4 0 -18/VIII,19).

3373. Quảng Nạp 廣 納

Tổng, đầu tk. XIX thuộc h. Thụy Anh p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Có 7 xã: Quảng Nạp, An Cố, Đông Dương, Lưu Đồn, Diêm Tỉnh, Phương Man, Vạn Đồn. Cuối tk. XIX  thuộc h. Thụy Anh, p. Thái Bình; có 7 xã: Quảng Nạp, Đông Dương, Lưu Đồn, Phương Man, Yên Cố, Diêm Tỉnh, Vạn Đồn. Đầu tk. XX thuộc h. Thụy Anh p. Thái Ninh; có 7 xã: An Cố, Diêm Tỉnh, Đông Dương, Lưu Đồn, Quảng Nạp, Phương Man, Vạn Đồn. Nay thuộc h. Thái Thụy.

3374. Quảng Nạp 廣 納

Xã cũ , đầu tk. XIX thuộc tg Quảng Nạp, h. Thụy Anh, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Cuối tk. XIX thuộc tg Quảng Nạp, h. Thụy Anh, p. Thái Bình, t. Nam Định. Đầu tk. XX thuộc tg Quảng Nạp, h. Thụy Anh, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Đại Đồng, h. Thụy Anh. Nay thuộc x. Thụy Trình, h. Thái Thụy. Dân số 2052 người (1927).

3375. Quảng Nạp

Trạm bơm điện tưới, tại th. Quảng Nạp, x. Thụy Trình, h. Thái Thụy. Xây dựng năm 1969, là một trong những trạm bơm điện tưới sớm nhất của huyện; quy mô 2 máy bơm. công suất 1 máy là 1000m 3 /h. Tứơi cho diện tích 120 ha của hợp tác xã Quang Nạp - đơn vị đầu tầu trong phong trào thâm canh tăng năng suất lúa vào những năm 1960. Công trình đã được cải tạo năm 1994 thay thế bằng thiết bị trục trục đứng, quy mô 1 máy bơm, công suất 1 máy 1800m 3 /h.

3376. Quảng Tế 2 (Q5)

Giống lúa thuần Trung Quốc, đưa vào trồng ở Thái Bình từ năm 1993. Thân cứng, phiến lá cứng, góc lá hẹp, bản lá rộng vừa phải, xanh đậm, lá đòng ngắn vừa, trổ tập trung , thắt cổ bông. Bông to hạt xếp xít, trọng lượng 1000 hạt là 25¸26gr. Cơm cứng nhưng đậm. Là giống cảm ôn ngắn ngày, cấy được 2 vụ; thời gian sinh trưởng: trà xuân muộn 130¸140 ngày, mùa trung 105¸115 ngày. Có khả năng thích ứng rộng; chống đổ khá; nhiễm khô vằn, rầy nâu trung bình, bạc lá nhẹ. Tránh cấy trên đất phèn nặng ở vụ xuân. Năng suất trung bình 60¸65 ta./ ha. ở Thái Bình đây là giống lúa có năng suất cao, được sản xuất rộng rãi ở các địa phương, diện tích từ 20¸35% tổng diện tích lúa (năm 2003; vụ mùa là:36%, vụ xuân 17%).

3377. Quạt

Vật dụng quen thuộc của người Thái Bình. Có nhiều loại quạt: Quạt mo làm bằng mo cau; quạt lá cọ; quạt nan đan bằng  giang, tre; quạt thước dài khoảng 45 cm, dùng cho người có tuổi che mưa, nắng; quạt giấy bằng khung tre, phất giấy nhuộm bằng nước vỏ cây màu hồng, màu nâu đậm, có 17 hoặc 18 nan, dùng "nhài" quạt chốt lại, xoè ra, gập lại dễ dàng. Người nghèo dùng quạt mo, quạt nan. Người khá giả dùng quạt lông, quạt thước hoặc quạt phất giấy màu, lụa có tua trang trí. Khi đi chơi hội hè, đình đám người xưa còn mang theo chiếc quạt để quạt mát  và để làm duyên. Trong nhiều đám cưới,  cô dâu dùng quạt lượt che mặt.

3378. Quạt lúa

Công cụ chuyên dùng để quạt sạch lúa, loại bỏ rờm lá, hạt thóc lép, làm bằng nan tre hoặc phất giấy. Quạt có hình thang cân, đáy lớn (phía đầu quạt) 60cm, đáy nhỏ (phía tay cầm) 50cm, chiều dài từ 0,70 - 0,75cm. Nan quạt gồm 11 nan cái làm bằng tre cật cắm đều vào khung ngang, đầu các nan cái có chốt giữ không bị tuột.  Khung ngang gồm 2 cái chạy dọc theo chiều ngang của quạt. Phía ngoài khung ngang trong dùng nan mỏng đan vào các nan cái. Tay cầm xỏ vào nan cái số 2 và nan cái số 10, nằm giữa 2 khung ngang, thường làm bằng ống tre nhỏ hoặc ống sậy vừa tay cầm để khi quạt không bị đau tay. Dùng sợi dây nhỏ bền (dây gai) đan chéo buộc vào nan cái, rồi lấy giấy loại bền, dai (dùng vỏ bao ximăng) dán lên 2 mặt của quạt. Lấy nước vỏ củ nâu, cậy phết lên giấy cho bền.

Ngày nay, nông dân Thái Bình hầu như không còn sử dụng quạt phất giấy nữa.

3379. Quân Bác 圴 博

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Cao Mại, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Cao Mại, p. Kiến Xuơng, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Vân Trường, h. Kiến Xương. Nay thuộc x. Vân Trường, h. Thái Thụy. Dân số 3306 người (1927). Địa bạ x. Quân Bác : 8 tr., không ghi năm lập, gồm công tư điền thổ 926 mẫu; trong đó công điền 718 mẫu; tư điền 88 mẫu. Thần sắc x. Quân Bác : 7 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (3 đạo). Phong cho Nam Hải Đại Vương; Tây Hải Đại Vương. Thần tích của 3 xã Quân Bác, Bác Trạch và Phương Trạch: 110 tr., sự tích Nam Hải Đại Vương, Đông Hải Đại Vương, Tây Hải Đại Vương và bài diễn Nôm, thể thơ lục bát, nói về các dòng họ của ba xã đến khai khẩn vùng đất này (Trung Hưng Tổ Tông Công Nghiệp Di Tích) và địa bạ của từng xã.  Tục lệ x. Quân Bác: 34tr., gồm 9 ước của 3 xã Quân Bác, Bác Trạch và Phương Trạch lập ngày 3 tháng 3 năm Gia Long 17 (1818) và 1 ước lập ngày 28 tháng 11 năm Duy Tân 2 (1908); 12 lệ của hội Tư văn xã Quân Bác lập ngày 19 tháng 10 năm Thành Thái 17 (1905); 1 tờ trình bản dự trù các khoản thu chi của năm tới và các lệ tế tự của xã không ghi ngày viết. Hương ước l. Quân Bác (1936): 20 tr. viết tay.

3380. Quân Động 筠 洞

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Hạ Động, h. Đông Quan, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Hạ Động, h. Đông Quan, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Hồng Hưng, h. Thụy Anh. Nay thuộc x. Thụy Sơn, h. Thái Thụy. Dân số 224 người (1927). Địa bạ x. Quân Động: 20 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805),  gồm công tư điền thổ 306 mẫu 2 sào 8 thước 3 tấc; trong đó công điền 40 mẫu 3 sào 9 thước; tư điền 256 mẫu; thổ trạch viên trì 9 mẫu 8 sào 14 thước 3 tấc. Tục lệ x. Quân Động: 60 tr., gồm 59 lệ, lập ngày 6 tháng 3 năm Đồng Khánh 2 (1887); 33 lệ, 7 khoán sửa đổi, không ghi ngày lập. Hương ước l. Quân Động (1936): 6. tr. viết tay. Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 3 tr., 37 tr. chữ Hán; 18 đạo sắc phong; 2 Thành hoàng: Tỉnh Tây, An Nghệ.

3381. Quân Hành 均 衡

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Thụy Lũng, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Thụy Lũng, p. Kiến Xương, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Bình Nguyên, h. Kiến Xương. Nay thuộc x. Bình Nguyên, h. Kiến Xương. Dân số 1309 người (1927). Địa bạ x. Quân Hành: 44 tr.,  khai mồng 6 tháng 12 năm Minh Mệnh 13 (1832), gồm công tư điền thổ 623 mẫu 10 thước 4 tấc; trong đó công điền 417 mẫu 9 sào 9 thước 6 tấc; tư điền 67 mẫu 4 sào 4 thước; thổ trạch viên trì  58 mẫu 9 sào 3 thước 6 tấc. Thần sắc x. Quân Hành: 5 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (1 đạo). Phong cho Linh Lang... Đại Vương; Thiên Quan... Đại Vương. Tục lệ x. Quân Hành: 14tr., gồm 29 lệ lập ngày 16 tháng 8 năm Tự Đức 32 (1879) và bản thần tích do Nguyễn Hiền chép lại, về sự tích Lang Công (Thiên Quan Linh Lang Chủ Sớ Đại Vương) và Tùng Công (Thiên Quan Cửa Chùa áng Tùng Đại Vương) thời 12 sứ quân. Hương ước x. Quân Hành (1936): 9 tr. viết tay.

3382. Quân Pháp rút chạy khỏi Thái Bình

Tối ngày 26-6-1954, đồn Dụ Đại (Đông Quan) bị tấn công, địch bị thương vong gần 20 tên. Sáng ngày 27, chúng phải vội vã rút về cầu Nguyễn. Quân địch đóng ở  cầu Sộp gần đó, cũng tự động bỏ đồn bốt và quân trang quân dụng, rút theo. Ngày 28-6, địch bỏ các vị trí Tràng Sinh, Sú (Đông Quan), Ô Mễ (Thư Trì) Kìm, Niềm Hạ, Sóc (Vũ Tiên) và lũ lượt kéo về thị xã. Sáng 30-6, địch từ các bốt Nguyễn, Phong Lôi rút về Đông Các. 10 giờ, một cánh quân địch từ Đông Các - Đống Năm có 20 xe cơ giới cũng rút về thị xã.


Bộ đội ta bố trí chặn đánh ở ngã tư Gia Lễ, tiêu diệt một bộ phận khá lớn sinh lực địch, thu và phá hủy 13 xe, 2 đại bác 105 ly và nhiều vũ khí. Được sự hỗ trợ của máy bay, mãi đến 15 giờ chúng mới rút về đến thị xã. Bọn địch ở đồn Sa Cát, Mỹ Đức cũng tháo chạy. 17 giờ ngày 30-6, địch giật mìn phá sập cầu Bo, phá một số công sở, đốt một kho đạn để nghi binh, rồi tối ngày 30-6, tàn quân địch lặng lẽ rút chạy khỏi thị xã theo đường 223 qua Vũ Tiên ra bến Thái Hạc sông Hồng. Số xe cơ giới còn lại thì theo đường số 10, ra Tân Đệ. Nhiều lính ngụy ì ra không chạy hoặc nhằm các lối rẽ tạt ngang. Nhân dân giúp họ lẩn trốn trong bờ rào, gậm giường. Cán bộ ta đứng ở bờ sông, tay chỉ đường, miệng ra lệnh: “Để súng xuống, chạy lối này, về xã mà xin giấy”. 10 giờ đêm địch về tới quãng Hội Khê, hốt hoảng đẩy vội một xe chở đầy súng xuống ruộng cho nhẹ bớt. Một bọn giặc giả chết nằm thẳng đơ dưới ruộng, quân ta túm cổ lôi lên từng tên. Một số nằm dí trên đường bắn loạn xạ, bị ô tô của chúng phóng tràn lên,  nghiến nát . Trong khi đó, một bộ phận của quân ta tiến vào chiếm lĩnh thị xã, đèn điện còn sáng trưng. Từ thị xã tới các làng xóm, thông cáo, truyền đơn, phóng thanh của ta thông báo tin chiến thắng. Sáng 1-7-1954, ta vào tiếp quản tx. Thái Bình.

Bộ đội vào tiếp quản thị xã Thái Bình

3383. Quân Trạch  均 澤

Xã cũ, cuối tk. XIX là trại Quân Trạch thuộc tg Tân An, h. Tiền Hải, p. Kiến Xương, t. Nam Định. Đầu tk. XX là x. Quân Trạch thuộc tg Tân An, h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. ái Quốc. Nay là th. Quân Trạch thuộc x. Tây Phong, h. Tiền Hải. Dân số 595 người (1927 ). Hương ước x. Quân Trạch (1935): 7 tr. viết tay. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 14 tr., 8 tr. chữ Hán; 5 đạo sắc phong; thần: Tây Hải, Đông Hải, Nam Hải, Nguyễn Công Trứ, Bản Thổ.

3384. Quần

Đồ mặc từ thắt lưng trở xuống. Xưa, người Thái Bình dùng loại vải tự dệt, nhuộm đen, nhấn bùn cho bền.

Quần phụ nữ: May theo kiểu chân què, ống rộng, đũng quần chùng, dài tới gần mắt cá chân. Dùng thắt lưng hoặc dùng dây rút để giữ chặt cạp quần. Người lao động mặc loại vải dày như đũi, nái, chỉ. Người thị thành giàu có, người buôn bán thường mặc quần lụa, the, lĩnh đen. Muốn đẹp thì may cạp quần màu đỏ hoặc màu xanh.

Quần nam giới: Người lao động bình dân dùng chất liệu chủ yếu loại vải dày, thô, nhuộm nâu, may ống rộng, cạp to bản khoảng 20cm, đũng sa thấp, không có dải rút, dùng thắt lưng bản to dài hàng sải tay để giữ quần. Có nhiều người khi mặc quần lại vê hai đầu cạp quần lại rồi thắt vào nhau, lúc làm việc xắn gọn lại, cạp toả ra ngoài thắt lưng gọi là quần lá toạ.

Người giàu có, giới thượng lưu mặc quần dài trắng, nếp gấp vuông ống sớ (quần ống sớ), khâu cạp, luồn dây rút, bỏ bớt thắt lưng nên quần gọn, nhẹ, đỡ tốn vải, lại chắc chắn.

3385. Quần Cao 群 高

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Cao Mại, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Cuối tk. XIX thuộc tg Cao Mại, h. Chân Định, p. Kiến Xương, t. Nam Định. Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ ngày 11-5 năm Thành Thái thứ 10 (1898):  “xã Quần Cao và xã Quan Cao về tổng Cao Mại h. Trực Định, viết chữ Quốc ngữ và giọng nói cùng giống nhau, đến nỗi nhiều sự nhầm lẫn, thì xã Quần Cao đổi làm xã Thái Cao để cho rõ ràng”.

Xem: Thái Cao (xã cũ - 3680).

3386. Quần thư khảo biện 群 書 考 辨

Sách do Lê Quý Đôn 黎 貴 惇 , tự Doãn Hậu 尹 厚 , hiệu Quế Đường 桂 堂 biên soạn và đề tựa năm Đinh Sửu (1757). Chu Bội Liên 朱佩 連 , Đề đốc Học chính tỉnh Quảng Tây, đề tựa. Tần Triều Vu 秦 朝 于, Lễ Bộ Viên ngoại lang triều Thanh, đề tựa. Hồng Khải Hi 鴻 啟 熙 Chánh sứ nước Triều Tiên đề tựa năm Càn Long Tân Tị (1761). 3 bản viết, 4 tựa. Kí hiệu: VHv.90/1-2: 351 tr., 30 x 18; A.252: 334 tr., 32 x 22; A.1872: 404 tr., 25 x 14; MF. 3124 (VHv.90). Nội dung: Khảo cứu, bình luận các nhân vật, sự kiện trong sử sách Trung Quốc từ đời Hạ, Thương, Chu đến đời Tống.

3387. Quế Anh Trinh Thục Công chúa

Thần thờ ở th. Nội, x. Bạt Trung, tg Nam Huân, h. Trực Định (nay thuộc x. Đình Phùng, h. Kiến Xương). Sự tích : Thời Lê Trang Tông, x. Bạt Trung, tg Nam Đ­ường, h. Trực Định, có ông Trương Quản lấy bà Ngô Thị Uyển, ngư­ời cùng huyện, sinh đ­ược một ng­ười con gái mặt hoa da phấn (ngày 3 tháng Giêng), đặt tên là Quý Hoa. Trang Tông nghe tiếng bèn lấy về làm phi. Năm 23 tuổi, Quý Hoa tự nhiên biến về trời. Vua thương tiếc khôn nguôi, phong là Quí Anh Đoan Trang Trinh Thục Từ Công chúa, giao cho dân xã lập miếu phụng thờ Công chúa. Các triều đế vương đều phong sắc và cho nhân dân th. Nội sửa sang miếu mạo để thờ.

Thái Bình tỉnh thần tích (AE.a5/5,35), (Q4 0 -18/VIII,18).

3388. Quế Đường thi vựng tuyển toàn tập 桂 堂 詩 彙 選全 集

Sách do Bảng nhãn Lê Quý Đôn 黎 貴 惇 soạn. 2 bản viết, có mục lục.

VHv.2341: Quế Đường thi vựng tuyển toàn tập, 310 tr., 26 x 15, có mục lục.

A.576: 232 tr., 32.5 x 22.5.

1. Thơ mừng, tiễn tặng, họa đáp giữa tác giả với sứ thần Triều Tiên như Lí Huy Trung, Hồng Khải Hi và một số bạn bè Trung Quốc trong thời gian tác giả đi sứ nhà Thanh.

2. Thơ đề vịnh các danh thắng, đền miếu, di tích lịch sử như chùa Hải Hưng, chùa Vạn Phúc, núi Lạn Kha, miếu Quan Thánh, lầu Nhạc Dương (A.576), hồ Động Đình, lầu Hoàng Hạc, đền ông Đại tư đồ, núi Dục Thúy (VHv.2341). Một số thơ tức cảnh như thôn chài buổi chiều, tuyết trên sông, đề quạt, tập cổ (A.576).

3389. Quốc Tuấn

Xã thuộc h. Kiến Xương, cách ttr. Thanh Nê 15km về phía bắc, theo đường 219. Sau năm 1947, lập x. Hưng Đạo gồm 3 làng: Thuỵ Lũng, Bích Kê, Đắc Chúng. Năm 1948, bỏ x. Hưng Đạo lập x. Quốc Tuấn gồm 6 thôn. Năm 1955, x. Quốc Tuấn tách thành 2 xã An Bình và Quốc Tuấn. X. Quốc Tuấn có 2 thôn Đắc Chúng, Thụy Bích (Thuỵ Lũng, Bích Kê). Năm 2003, tổ chức lại thành 7 thôn: Đắc Chúng Bắc, Đắc Chúng Trung, Đắc Chúng Nam, Bích Kê, Thuỵ Lũng Nam, Thuỵ Lũng Đông, Thụy Lũng Tây. Diện tích tự nhiên 684,69 ha. Dân số 6915 nhân khẩu, gồm 1924 hộ.

Địa thế nằm cạnh sông Trà Lý, thấp trũng, thường bị ngập úng. Từ khi xây dựng trạm bơm An Quốc, nạn úng lụt vào vụ mùa đã cơ bản được giải quyết. Nhân dân sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi; một số lao động làm các nghề mộc, nề sản xuất vật liệu xây dựng, đan mây tre xuất khẩu, thêu ren, gột lợn, nấu rượu... Có chợ Rọng, chợ lớn trong vùng. Đình Thụy Lũng và đền Đắc Chúng là DTLS cấp tỉnh. Có 161 liệt sĩ, 61 thương binh, 18 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Quốc Tuấn là quê hương của Anh hùng LLVTND, Trung tướng Phạm Tuân.

3390. Quý Cường

Bến đò vượt sông Hồng, bên tả là x. Hồng Phong,h. Vũ Thư, bên hữu là x. Nam Thanh, h. Trực Ninh, t. Nam Định. Trước sử dụng đò gỗ, nay thay bằng thuyền máy.

3391. Quý Đức  貴 德

Xã cũ, cuối tk. XIX là lý Quý Đức thuộc tg Tân Hưng, h. Tiền Hải, p. Kiến Xương, t. Nam Định. Đầu tk. XX là xã Quý Đức thuộc tg Tân Hưng, h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Tân Hưng. Nay thuộc 2 xã Đông Quý, Đông Xuyên, h. Tiền Hải. Dân số 938 người (1927). Hương ước x. Quý Đức (1942): 9 tr. viết tay. Bản khai thần tích-thần sắc th. Đông (1938): 54 tr., 15 tr. chữ Hán; 5 đạo sắc phong; thần: Nam HảI, Tiên Công, Đôn Ngưng, Hậu Thổ Sơn Thần. Bản khai thần tích-thần sắc th. Tây (1938): 21 tr., 10 tr. chữ Hán; 5 đạo sắc phong; thần: Nguyễn Công Trứ, Đôn Ngưng, Bản Thổ.

3392. Quý Đức

Đình th. Quý Đức, x. Đông Quý, h. Tiền Hải. Xưa là đình chung của x. Quý Đức, nay chia về th. Quý Đức Tây, nên quen gọi đình Quý Đức Tây. Khởi dựng năm 1861, đại tu năm 1919, bố cục chữ “tam”. Bái đình 5 gian. Hai tòa đệ nhị, đệ tam, mỗi tòa 3 gian, xây cuốn, lòng rộng 4,5m, dài 6 m. Đồ thờ có 1 cỗ khám lớn, 4 cỗ ngai đều sơn son thếp vàng. Ban thờ chính bầy tượng nguyên mộ Bùi Hoành, và các tòng mộ Lê Tuyển, Vũ Hữu... những người đã mộ dân theo Nguyễn Công Trứ khẩn hoang, lập x. Quý Đức. Được xếp hạng DTLS cấp tỉnh (1997).

3393. Quý Minh Đại Vương

Thần thờ ở l. Bình Cách, tg. Bình Cách, h. Đông Quan (nay thuộc x. Đông Xá, h. Đông Hưng). Sự tích : Quý Minh Đại Vương húy là Nguyễn Sùng, người em út trong bộ ba Sơn thần: Nguyên Tùng (tức Tản Viên Sơn Thánh do người bác ruột Nguyễn Cao Hàng sinh ra), là người em song sinh với Nguyễn Cao Hiển (do cha tên là Nguyễn Cao Khang và mẹ Phạm  Thị Hương nằm mơ vào rừng bắt được hai con hổ đang vật nhau  ôm về nhà, sau mẹ đẻ ra hai anh em thần). Anh Nguyễn Cao Hiển (tức Tả Kiên thần Cao Sơn Đại Vương). Quý Minh là người em thứ ba theo trật tự (mạnh, trọng, quý), vừa là em út: trong chữ Hán là chữ quý 貴 út (chót) cũng là chữ quý. Theo thần tích Quý Minh là một trong 50 người con theo cha Lạc Long về biển, sau vì nhớ mẹ Âu Cơ lại cùng với người con của bác ruột là Nguyễn Tùng (Tản Viên Sơn Thánh) và người anh song sinh là Nguyễn Cao Hiển (Cao Sơn Đại Vương) lên non giúp Hùng Duệ Vương đánh đuổi giặc Thục. Rồi cùng với vua và hai anh bay lên trời biến vào cõi hóa sinh bất diệt. Ngày nay, người ta vẫn còn được chiêm ngưỡng bài vị của Quý Minh Đại Vương bên hữu miếu thờ Tản Viên Sơn Thánh trên đỉnh núi Ba Vì.

Thái Bình tỉnh thần tích (AE.a5/22,118), (Q4 0 -18/VIII,22).

3394. Quyết Tiến

Xã thuộc h. Kiến Xương, cách ttr. Thanh Nê 10km về phía Bắc, đi theo đường 222. Thành lập năm 1956 với một l. Mai Chử (trong KCCP  thuộc x. Lê Lợi). Năm 2003, tổ chức lại thành 4 thôn: Đồng Tiến, Trung Tiến, Hồng Tiến, Tân Tiến. Diện tích tự nhiên 214,43 ha. Dân số 2785 nhân khẩu, gồm 810 hộ.

Là xã có diện tích nhỏ nhất huyện, nằm sát sông Dục Dương, thuận lợi cho công tác thủy lợi. Nhân dân sống bằng nghề nông, sản phẩm chính là lúa và lợn siêu nạc. Xã đã phát triển nghề thủ công, một số hộ dệt vải đũi, đan mây tre, gia công sợi vải, dệt cói... Sông Câu chảy qua, dài 1, 8km, có 1 cầu, 2 bến bãi. Là một xã vùng trũng của h. Kiến Xương, đất đai không bằng phẳng, giao thông không thuận tiện, đất thịt nặng, khó canh tác. Chùa Thanh Quang là DTLS cấp tỉnh. Trong KCCP và KCCM có gần 1000 thanh niên nhập ngũ, 74 liệt sĩ, 46 thương binh, 7 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 250 người được tặng Huân chương Kháng chiến.

3395. Quyết Tiến

Cầu trên tỉnh lộ 223 km 8 + 520, vượt sông Bồ Xuyên, địa phận ph. Bồ Xuyên, tp. Thái Bình. Xây dựng 1988 bằng bê tông cốt thép, dài 7,3m, rộng 24,5 m, tải trọng H30.

3396. Quỳnh Bảo

thuộc h. Quỳnh Phụ, nằm ở phía tây nam huyện, cách ttr. Quỳnh Côi 6km. Thành lập năm 1955, gồm 2 thôn Nam Đài (l. Rồng), Ngọc Chi (l. Ướng). Trong kháng chiến chống Pháp là x. Việt Cường. Năm 2003, tổ chức lại 2 thôn như năm 1955. Diện tích tự nhiên 359,56ha.

Dân số 4084 nhân khẩu, gồm 1075 hộ. Là xã nội đồng, thuần nông, xa các trung tâm kinh tế. Sản phẩm chính có lúa, nghề chăn nuôi lợn thịt, lợn nái là nghề truyền thống. Xã còn bảo tồn được 2 đình, 2  chùa. Đình Ngọc Chi và Đình Nam Đài đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Hội chùa vào dịp 15-4 âm lịch. Trong KCCP, Quỳnh Bảo là căn cứ du kích. Các đồng chí lãnh đạo khu, trong đó có đồng chí  Đỗ Mười đã từng hoạt động ở đây. Xã có 65 liệt sĩ, 56 thương binh, 6 mẹ Việt Nam anh hùng.

Thu hoạch vụ đông (1980)

3397. Quỳnh Côi 瓊 瑰

Huyện cũ trước 1945.

Xem: A Côi (huyện cũ - 1)

3398. Quỳnh Côi

Huyện cũ sau 1945: Tháng 3-1949, địa giới h. Quỳnh Côi được điều chỉnh như sau:

* Cắt các thôn An Lạc, Hương Hòa, Hưng Đạo, Gia Hòa của h. Đông Quan ; La Triều (thuộc x. Phú Triều cũ), Thượng Thọ (thuộc x. Xích Ngọc cũ), Trình Uyên, Phục Lễ của h. Tiên Hưng và th. An Hiệp của h. Phụ Dực sáp nhập vào h. Quỳnh Côi.

* Cắt các thôn Lai ổn, Sài Thôn, Mỹ Thôn, Đồng Hưng, Mai Trang của h. Quỳnh Côi sáp nhập vào h. Phụ Dực.

Đồng thời chia lại đơn vị hành chính cấp xã, mỗi xã mới gồm một số xã, thôn cũ trước 1945; h. Quỳnh Côi có 12 xã:

- Diên Hồng , gồm: An ấp, An Ký, Cam Mỹ, Đại Nẫm, Đồng Trụ, Giáo Thiên, Thượng Xá, Tiên Bá, Xuân Lai.

- Hoàng Hải , gồm: An Trực, Cần Phán, Đề Đỗ, Đồng Trực, Hạ Phán, Nghi Phú, Thượng Phán.

- Hồng Quảng , gồm: An Phú, Cầu Xá, Đoàn Xá, Đông Xá, Lương Mỹ, An Vệ, Lê Xá, Nguyên Xá, Phụng Công, Xuân Trạch.

- Khánh Thiện , gồm: A Mễ, Khang Ninh, Ô Cách, Tế Mĩ, Tiên Cầu, Xuân La.

- Khắc Vinh , gồm: An Lộng, Chung Linh, Đà Thôn, Đồng Ngậu, Vạn Niên, Ngõ Mưa, Ngọc Minh, Vĩnh Niên, Đồng Niên, Hào Long.

- Lạc Hồng , gồm: Đồn Xá, La Vân, Lương Cụ, Mĩ Cụ.

- Quang Cáp , gồm: An Hiệp, Bái Lân, Bái Trang, Bồ Trang, Ngọc Quế, Sơn Đồng.

- Quang Vinh , gồm: Cổ Tiết Thượng Phúc.

- Tây Sơn , gồm: An Khoán, Cần Ru, Đại Phú, Khả Lang, La Triều, Mỹ Ngọc, Mỹ Xá, Thượng Thọ.

- Toàn Thắng , gồm: Bương Hạ, Bương Thượng, Đông Châu, Đông Quynh, Hy Hà, Quỳnh Lang, Tân Mỹ.

- Vạn Thắng , gồm: Mĩ Giá, Phấn Tảo, Phúc Bồi, Tài Giá, Tang Giá (hai làng Giá còn có tên Tân Dân).

- Việt Cường , gồm: Hải An, Nam Đài, Ngọc Chi, Phương Quả.

Đến cuối 1955 Thái Bình tiến hành CCRĐ, h. Quỳnh Côi thành lập 22 xã mới và 1 thị trấn. Lấy chữ “Quỳnh” (chữ đầu của tên huyện) làm chữ đầu của tên các xã: Thị trấn Quỳnh Côi, Quỳnh Bảo, Quỳnh Giao, Quỳnh Hà, Quỳnh Hải, Quỳnh Hoa, Quỳnh Hội, Quỳnh Hưng, Quỳnh Khê, Quỳnh Lâm, Quỳnh Lưu, Quỳnh Lương, Quỳnh Mĩ, Quỳnh Ngọc, Quỳnh Nguyên, Quỳnh Sơn, Quỳnh Thái, Quỳnh Trang, Quỳnh Xá, Quỳnh Vân, Quỳnh Châu, Quỳnh Minh, Quỳnh Thọ.

Tháng 6-1969, h. Quỳnh Côi hợp nhất với h. Phụ Dực thành h. Quỳnh Phụ.

3399. Quỳnh Côi 瓊 瑰

Tổng, đầu tk. XIX thuộc h. Quỳnh Côi, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Có 7 xã, phường: Quỳnh Côi, An Vệ, Lương Mỹ, Đông Các, Hương La, ph. Đông Các, ph. Đông Trạch. Cuối tk. XIX thuộc h. Quỳnh Côi, p.p. Thái Bình, t. Nam Định; có 5 xã: Quỳnh Côi, Yên Vệ, Đông Xá, Hương La, Lương Mỹ. Đầu tk. XX thuộc h. Quỳnh Côi, t. Thái Bình ; có 6 xã: An Mễ, An Vệ, Đông Xá, Lương Mỹ, Quỳnh Côi, Xuân La. Nay thuộc h. Quỳnh Phụ.

3400. Quỳnh Côi 瓊 瑰

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Quỳnh Côi, h. Quỳnh Côi, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Quỳnh Côi, h. Quỳnh Côi, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Hồng Quảng, h. Quỳnh Côi. Nay thuộc ttr. Quỳnh Côi. Dân số 2283 người (1927). Địa bạ x. Quỳnh Côi : 96 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 1184 mẫu 1 sào 10 thước 4 tấc; trong đó công điền 6 mẫu 2 sào 1 thước 8 tấc; tư điền 955 mẫu 6 sào 1 thước 6 tấc; thổ trạch viên trì 185 mẫu 9 sào 8 thước. Thần tích x. Quỳnh Côi : 10 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Nghị Công (Hộ Quốc Cương Nghị Đại Vương) thời Lý Cao Tông. Thần tích th. Cầu Xá 巄 舍: 3 tr., về sự tích 2 vị thần song sinh là Hiển Công (Hiển ứng Đại Vương) và Lang Công (Linh Lang Đại Vương) thời Lý Anh Tông. Tục lệ x. Quỳnh Côi : 8 tr., gồm 17 lệ, lập ngày 20 tháng 10 năm Khải Định 3 (1918); Tục lệ th. Lê Xá 黎 舍: 4 tr., gồm 11 lệ, lập ngày 10 tháng 10 năm Khải Định 3 (1918); Tục lệ th. Đoàn Xá 段 舍 : 4 tr., gồm 10 điều, lập ngày 10 tháng 10 năm Khải Định 3 (1918); Tục lệ th. Đồng Trạch 同 澤: 4 tr., gồm 10 điều, lập ngày 20 tháng 10 năm Khải Định 3 (1918). Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 6 tr.;  thần  Thiên Bồng.

3401. Quỳnh Côi

Thị trấn huyện lỵ h. Quỳnh Phụ, nằm trên 3 đường liên huyện 216 (1 km), 217 (3 km) và 224 (500m), cách tp. Thái Bình 25 km. Ngày 26- 12-1990, ttr. Quỳnh Côi được sáp nhập thêm 2.2891 ha diện tích tự nhiên và 199 nhân khẩu của x. Quỳnh Hồng, 0.5138 ha diện tích tự nhiên và 45 nhân khẩu của x Quỳnh Mỹ. Đến đầu năm 2005, ttr. có 122 ha diện tích tự nhiên (trong đó có 42 ha cấy lúa); 5135 nhân khẩu, gồm 1371 hộ. Trước năm 2003, ttr. chia làm 7 khu dân cư. Thực hiện quyết định 65/2002/ QĐ-UB của UBND tỉnh về việc tổ chức lại thôn (làng), ttr. Quỳnh Côi chia làm 24 tổ dân phố xếp theo thứ tự từ 1 đến 24. Quỳnh Côi là trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa của huyện. Có sông An Lộng và sông Lương Văn Hải, có cầu Tây và cầu Mỹ Hà, có bến xe khách đi tp. Thái Bình, đi Hà Nội, Hải Phòng. Kinh tế thị trấn phát triển theo hướng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, song hiện tại có một số hộ vẫn làm nông nghiệp.

Theo thần tích thì đất này có từ thời Hùng Vương, từ khi lập h. Quỳnh Côi, huyện lỵ đã đóng tại đây và Quỳnh Côi đã đi vào sử sách với tên A Côi (thời Trần), Quỳnh Côi từ thời Lê đến nay. Ttr. Quỳnh Côi chỉ còn 2 miếu nhỏ, các đình đền đã bị phá nên không có lễ hội truyền thống nhưng nhân dân vẫn duy trì tục đốt đèn trời. Có 68 Cử nhân, 350 người đang theo học đại học, cao đẳng và các trường dạy nghề. Có 45 liệt sĩ, 75 thương binh, có 2 cán bộ tiền khởi nghĩa, được thưởng 1500 Huân, Huy chương các loại.

3402. Quỳnh Côi

Chợ huyện, có từ lâu đời, trước họp ở Gũ, nên có còn gọi là chợ Gũ. Thời chống Mỹ, chợ họp ở La Vân, x. Quỳnh Hồng. Chợ họp cả ngày, mỗi tháng có 6 phiên chính vào buổi sáng các ngày 2, ngày 6 âm lịch. Nổi bật vào ngày chính phiên chợ thời ấy ở chợ này là trâu, bò, thóc gạo, lợn gà, bông. Vào những năm 39-40 của tk. XX, đây là chợ duy nhất trong vùng có bán trâu, bò (của Thanh Hoá, Ninh Bình, Hưng Yên hay của dân trong vùng, phải bán mua qua lái). Bông của Quỳnh Côi được đem bán buôn sang Nam Định và các nơi khác. Vải tấm buôn từ nơi khác cũng bán ở đây vào ngày chợ phiên. Từ năm 1986, chợ chuyển về ven đường phía đi ra cầu Dầu vẫn thuộc địa phận x. Quỳnh Hồng, cách cầu Tây khoảng 500 m, trên một bãi rộng chừng 7000m2. Có thời đã định mở thêm phiên chính vào ngày chủ nhật nhưng không thành. Đặc biệt là hàng bánh đa mềm mỏng mà dai nổi tiếng của Quỳnh Côi, khi ăn chỉ cần rửa sạch rồi thả vào nước dùng sôi là được.

3403. Quỳnh Côi

Sông, còn gọi là sông Yên Lộng hay sông Bến Hiệp. Đây là con sông đào xuyên qua một phần h. Quỳnh Phụ, xuôi xuống h. Đông Hưng, có chiều dài khoảng 15 km, bắt đầu từ cống Bến Hiệp nối với sông Tiên Hưng ở x. Liên Giang.

3404. Quỳnh Châu

Xã thuộc h. Quỳnh Phụ, nằm ở phía tây nam huyện, cách ttr. Quỳnh Côi 5km theo đường 216. Thành lập năm 1955, gồm các thôn Châu Duyên, Lê Hoàng, Mỹ Xá, Khả Lang, Phục Lễ. Năm 2003, tổ chức lại 5 thôn, gồm Châu Duyên, Hoàng Xá, Mỹ Xá, Khả Lang, Phục Lễ (trong KCCP là x. Tây Sơn). Diện tích tự nhiên 303,1 ha. Dân số 3763 nhân khẩu, gồm  979 hộ. Có 250 Phật tử.  Là xã nội đồng không có sông lớn, không có chợ, nhân dân sống bằng nghề cấy lúa và chăn nuôi gia súc, gia cầm, nghề phụ chưa phát triển. Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn và đời sống nhân dân ở mức thấp của huyện. Cả xã còn 4 đình, chùa và đền, trong đó có 3 Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Hàng năm có 3 hội làng. Có 7 mẹ Việt Nam anh hùng, 197 cán bộ, nhân dân trong xã được tặng Huân chương kháng chiến.

3405. Quỳnh Giao

Xã thuộc h. Quỳnh Phụ. Đơn vị Anh hùng LLVTND thời kỳ chống Pháp. Nằm ở phía bắc huyện, cách ttr. Quỳnh Côi 2 km theo đường 217. Thành lập năm 1955, gồm các thôn An Bái, An Hiệp, Hào Long, Đồng Ngậu, Sơn Đồng (trong KCCP là x. Quang Cáp). Năm 2003, x. Quỳnh Giao tổ chức lại 6 thôn: An Bái, An Hiệp, Bến Hiệp, Đồng Ngậu, Hào Long, Sơn Đồng. Diện tích tự nhiên 549,9 ha; dân số 6143 nhân khẩu, 1626 hộ (mười năm qua có 52 hộ chuyển đi) ;có 24 hộ với 105 khẩu theo đạo Thiên chúa.

Quỳnh Giao có sông Luộc, sông Nam Hà chảy qua, có cầu Dầu, cầu Đen, cống Hiệp, bến Hiệp, chợ Hiệp... Nhân dân Quỳnh Giao cấy lúa và làm dịch vụ, thủ công có nghề đan mây tre, dịch vụ khai thác cát, vật liệu xây dựng, vận chuyển... Bến Hiệp xưa chỉ là một bến sông nay đã thành một thôn. Đã hoàn thành các mục tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng. Ngoài đường giao thông, đường điện có các công trình xây dựng kiên cố như trường Mầm Non, trường tiểu học, trạm y tế, đài tưởng niệm liệt sĩ... Có một Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Hội làng xưa có trò đuổi hổ, có nhiều câu lạc bộ thể thao. Đầu 1945, xảy ra sự kiện cướp thuyền chở thóc của Nhật. Trong KCCP, tiếng trống Sơn Đồng từng làm quân thù khiếp sợ. Hàng nghìn thanh niên Quỳnh Giao đã lên đường giết giặc, có 185 liệt sĩ, 80 thương bệnh binh, 2 Lão thành cách mạng, 7 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 2 cấp tướng, 873 người được tặng huân,  huy chương các loại.

3406. Quỳnh Hải

Xã thuộc h. Quỳnh Phụ. Đơn vị Anh hùng LLVTND thời kỳ chống Pháp.  Nằm ở trung tâm huyện, cách ttr. Quỳnh Côi 1km. Thành lập năm 1955 gồm các thôn An Phú (l. Đỏ), Cầu Xá (l. Gòi), Đoàn Xá, Lê Xá, Quảng Bá, Xuân Trạch. Năm 2003, tổ chức lại thành 6 thôn như trước năm 1955. Diện tích tự nhiên 635 ha. Dân số 8150 nhân khẩu, gồm  2254 hộ.

Nhân dân có trình độ thâm canh giỏi, hệ số sử dụng đất cao nhất tỉnh. Sản phẩm trồng trọt ngoài lúa màu có các loại cây xuất khẩu như hành, tỏi, khoai tây, ớt, đỗ xào, rau thơm, các loại xu hào, bắp cải. Quỳnh Hải có nghề đan mây tre xuất khẩu. Còn 6 chùa, đình Cầu Xá là DTKTNT cấp tỉnh. Trong lễ hội làng xưa có trò Chiềng rối vừa múa vừa hát; nay không còn.

Quỳnh Hải là xã đầu tiên đạt 5 tấn thóc/ha trong KCCM. Chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo cơ chế thị trường và là xã đạt giá trị sản xuất 50 triệu đồng/ha đầu tiên của tỉnh. Có 215 liệt sĩ, 65 thương binh, 9 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 1 Thiếu tướng, 1488 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.

3407. Quỳnh Hải

Trạm bơm, x. Quỳnh Hải, h. Quỳnh Phụ. Là một trong những trạm bơm đầu tiên của huyện, xây dựng năm 1961. Quy mô 2 máy bơm, công suất 1 máy là 1000m 3 /h. Đã được cải tạo vào năm 1988, theo chủ trương cải tạo trạm bơm trục ngang thành trục đứng, quy mô 2 máy bơm, công suất 1 máy là 1800m 3 /h; tưới nứơc cho 300 ha của x. Quỳnh Hải, phục vụ thâm canh lúa và hoa màu; góp phần đưa xã trở thành 1 trong 3 xã đầu tiên của t. Thái Bình đạt giá trị sản xuất trên 50 triệu đồng/ha/năm vào năm 2003.

3408. Quỳnh Hoa

Xã thuộc h. Quỳnh Phụ, cách ttr. Quỳnh Côi 4 km về phía bắc, theo đường 217. Thành lập năm 1955, gồm 3 thôn: Bái Trang, Bồ Trang, Ngọc Quế (trong KCCP thuộc x. Quang Cáp). Sau nhiều năm tổ chức điều hành theo đội sản xuất và xóm, năm 2003, tổ chức lại 3 thôn như trước năm 1955. Diện tích tự nhiên 766.4 ha. Dân số 7222 nhân khẩu, gồm 1990 hộ.

Nhân dân  sống chủ yếu bằng nghề nông. Có một số hộ trồng dâu nuôi tằm, làm nghề đan mây tre, móc túi sợi, xây dựng. Có bến Ngọc Quế (trên sông Luộc), có chợ Bồ Trang, chợ Bái Trang. Quỳnh Hoa nằm bên sông Luộc dài gần 4 km, có điều kiện lấy nước phù sa tưới cho đồng ruộng nên đất đai mầu mỡ, thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp. Vùng thấp trũng ven sông Sành còn bị ngập  ngập úng khi mưa lớn.

Xã còn bảo tồn được 2 đình, 1 miếu, 3 chùa, trong đó miếu th. Bồ Trang đã được xếp hạng Di tích cấp nhà nước và 2 Di tích cấp tỉnh. Có 3 lễ hội truyền thống, chủ yếu là hội làng. Có 192 liệt sĩ, 124 thương binh. Gần 1000 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.

Xt: Vụ Quỳnh Hoa (4756)

3409. Quỳnh Hoa

Kè lát mái, tại km 26+500 đến km 27+200 đê hữu Luộc, x. Quỳnh Hoa, h. Quỳnh Phụ. Xây dựng năm 2001¸ 2002, bằng đá hộc xếp khan mái, thả rồng và gieo đá giữ chân, dài 700m, cao trình đỉnh (+3.50) và chân (-8.00). Đã ổn định.

3410. Quỳnh Hoa, Linh Xuân, Phúc Ấm, Vạn Ninh, Kệ Khê, Vô Nam Đẳng Tự Kiều Bi 瓊 花 靈 春 福 蔭 萬 寧 偈 溪 無 南 等 寺 橋 碑

Bia dựng năm Hoằng Định thứ 12 (1611) ở chợ Nguyên Xá, tg. Cổ Cốc, h. Thần Khê, p. Tiên Hưng (nay là x. Nguyên Xá, h. Đông Hưng). Bia hai mặt, khổ 1.28m x 0,68m. Gồm 62 dòng, khoảng 800 chữ. Trang trí mặt trời, rồng, hoa lá. Người soạn: Nguyễn Lễ, Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1568).  Nội dung: Chùa Quỳnh Hoa, Linh Xuân, Phúc Ấm, Vạn Ninh và cầu Kệ Khê, Vô Nam ở hai xã Cổ Xá, Nguyên Xá, h. Thần Khê là những cổ tích của địa phương mà lâu nay chưa được tu sửa. Từ ngày Hoàng thượng lai Kinh, lại được chúa phò tá nên công nghiệp rực rỡ hơn xưa. Nay được sự giúp đỡ của Nhâm Thăng hầu Hà Hữu Dung cùng vợ bỏ tiền ra tu sửa những công trình trên. N. 3217/8.

3411. Quỳnh Hoàng

Xã thuộc h. Quỳnh Phụ, cách ttr. Quỳnh Côi 6 km về phía Tây bắc, theo đường 217. Thành lập ngày 18-12-1976 trên cơ sở sáp nhập 2 x. Quỳnh Lưu và Quỳnh Thái, gồm các thôn: An Lộng, An Trực, Đồng Trực (l. Chín), Đào Xá, Cần Phán (l. Giải), Liên Hiệp (l. Nguộn), Ngõ Mưa, Vạn Niên (làng Nan), Thượng Phán, Hạ Phán, Đồng Niên. Năm 2003, tổ chức lại thành 15 thôn: An Lộng 1, An Lộng 2, An Lộng 3, An Trực, Cần Phán, Đào Xá, Đồng Trực, Đồng Niên, Liên Hiệp, Ngõ Mưa, Hạ Phán, Thượng Phán, Ngọc Minh, Vạn Niên, Trại Vàng. Thôn Trại Vàng nằm ở phía tả sông Luộc giáp t. Hải Dương. Diện tích tự nhiên 769.6 ha. Dân số 10.126 nhân khẩu, gồm 2766 hộ.

Nhân dân sống chủ yếu bằng cấy lúa và trồng cây lương thực. Có nghề làm bánh đa, làm bún, đan mây tre. An Lộng có nghề đúc đồng truyền thống, nay chuyển sang đúc nhôm. Có chợ An Lộng (quy mô vùng), chợ Nan. Ngoài sông Luộc ở phía bắc xã, còn có 4 sông nhỏ, 2 cống, 1 đò ngang qua sông Luộc. Bình quân ruộng đất thấp.

Quỳnh Hoàng là quê hương của Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ. Hiện còn 23 đình, đền, chùa, miếu. Đình An Lộng, đình và miếu Vạn Niên đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa. Có 4 lễ hội truyền thống. Trong KCCM, x. Quỳnh Hoàng xuất hiện một điển hình “một xóm 3 Anh hùng”, đạt năng suất 8.2 tấn thóc/ ha. Có 2 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 3 Lão thành cách mạng, 2150  người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.

Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ xã Quỳnh Hoàng

3412. Quỳnh Hội

thuộc h. Quỳnh Phụ. Đơn vị Anh hùng LLVTND trong KCCP. Nằm ở trung tâm huyện, cách ttr. Quỳnh Côi 5km theo đường 216. Thành lập năm 1955, gồm các thôn: Đông Xá (Vông), Lương Mỹ (Thống), Nguyên Xá (Và), Hoá Khê (Tân Hoá), Phụng Công (Lang Chung). Năm 2003, tổ chức lại 5 thôn như trước năm 1955 (trong KCCP là x. Hồng Quảng). Diện tích tự nhiên 765,8ha. Dân số 8550 nhân khẩu, gồm  2400 hộ.

Từ năm 2000 đã chuyển đổi mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại. Có 2 sản vật nổi tiếng là chè và thuốc lào. Quỳnh Hội có 4 đình, 1 đền, 5 chùa, trong đó có 3 Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh kèm theo đó là 3 lễ hội. Xã có truyền thống múa kéo chữ. Đất đai Quỳnh Hội hình thành từ rất sớm. Tại l. Đông Xá (l. Vông) năm 1960, đã tìm thấy hàng trăm mũi tên đồng có niên đại cùng thời với văn hoá Đông Sơn cách ngày nay 2500 năm. Theo truyền thuyết từ thời Hùng Duệ Vương x.  Quỳnh Hội đã có người tham gia đánh giặc, thời Lê Trịnh, Bùi Đá  - Hoàng Sỏi đã dựng thành Đá ở chợ Và (Nguyên Xá). Trong KCCP, nhiều trận đánh ác liệt giành giật từng căn nhà đã diễn ra ở l. Đông Xá. Xã có 1 Thượng tướng, hàng chục sĩ quan cấp tá, 6 Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Xt: Vụ Quỳnh Hội (4757)

3413. Quỳnh Hồng

Xã thuộc h. Quỳnh Phụ,  nằm ở trung tâm huyện, cách ttr. Quỳnh Côi 1 km. Thành lập ngày 5-9-1975 trên cơ sở "hợp nhất 2 xã Quỳnh Lương và Quỳnh Vân". Khi thành lập có 23 đội sản xuất gọi theo số thứ tự từ 1 đến 23 của các thôn  Bình Ngọc, Đồn Xá, La Vân, Lương Cụ, Mỹ Cụ, Quỳnh Ngọc. Năm 2003  tổ chức lại thành 9 thôn: Bình Ngọc, Đồn Xá, La Vân 1, La Vân 2, Lương Cụ Nam, Lương Cụ Bắc, Mĩ C

Tin mới ...
Tin cũ hơn ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 0 đánh giá

Album ảnh, Đại Hội VIII - Hội đồng hương Thái Bình CHLB Đức, Berlin 16.05.2016

Thanh niên & Sinh viên Thái bình

Hát xẩm - Hồng Tươi - Hoàng Thị Dư - Xuân Phương - Trà Giang

Tỷ giá - Thời tiết

Tỷ giá

Thông tin thời tiết

   

Back To Top