Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Từ điển Thái Bình » "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 4708 - 4990)

Từ điển Thái Bình

"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 4708 - 4990)

Ngày đăng: 31/07/2013 In trang

"Ông Nguyễn Quang Ân là nhà sử học, công tác tại Viện Sử học Việt Nam. Từ năm 1998 ông là Giám đốc Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông Ân là tác giả và đồng chủ biên tác phẩm Từ điển Thái Bình và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn sử học khác. Ông đã góp ý kiến và nhiệt tình gửi tới BBT một số tác phẩm đã xuất bản về quê hương Thái Bình để giúp BBT có tài liệu tham khảo, tuyên truyền giới thiệu tới bà con đồng hương xa nhà.
Xin quý bạn đọc lưu ý mấy điểm như sau:
1/ Về nội dung và thứ tự các mục từ hoàn toàn theo bản in ở trong nước.
2/ Về hình thức có sự thay đổi như: thứ tự số trang, phông chữ và tên mục từ không dùng chữ in hoa như bản in.

3/ Do điều kiện kỹ thuật trình bầy trên trang web không thể đưa chữ Hán Nôm và cũng không thể đưa hết các ảnh minh họa ở nhiều mục từ như sách đã in.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Quang Ân đã có tâm huyết và gửi tặng cho dhthaibinh.de bộ sách "Từ điển Thái bình" này và mong rằng bạn đọc của dhthaibinh.de sẽ hiểu hơn nữa về quê hương Thái Bình chúng ta".

Cuốn "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập gồm 4990 mục từ, 1300 trang in khổ 19x27cm do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo biên soạn; Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên; Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2010.

Chúng tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc toàn tập của cuốn từ điển qúy giá này.

***

 

Tiếp theo...

4708. Vũ Lễ

Xã thuộc h. Kiến Xương, thành lập năm 1955, gồm Man Đích (l. Đác), Đồng Vân (xưa gọi Đồng Mây), Trình Hoàng (Vàng), Đông Chú, Tri Lễ (trong KCCP các thôn trên thuộc x. Vân Thượng). Năm 2003, tổ chức lại 5 thôn và giữ lại tên cũ: Đông Chú, Đồng Vân, Man Đích, Tri Lễ, Trình Hoàng. Diện tích tự nhiên 510 ha.  Dân số 6112 nhân khẩu, gồm 1576 hộ. Sống chủ yếu bằng nghề nông, cấy lúa và trồng cây màu, chăn nuôi gia súc gia cầm trong các gia đình. Một số lao động làm nghề mộc, nề, làm mặt ghế cói gia công đặt hàng cho các nơi, làm đại lý nông sản, mua gom thực phẩm, gia súc, gia cầm; nhiều nhất là lợn sữa để chế biến thực phẩm xuất khẩu..

Còn bảo tồn được 3 chùa cổ, trong đó chùa Phúc Lâm đã được xếp hạng DTKTNT cấp tỉnh. Là quê hương của liệt sĩ, Anh hùng LLVTND Đinh La Cầu; có 4 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 70 liệt sĩ, 42 thương binh, 1 Lão thành cách mạng.

4709. Vũ Mạnh Rinh (s. 1938)

Chủ tịch UBND, Chủ tịch HĐND tỉnh Thái Bình (1988- 1994). Quê x. Vũ Tây, h. Kiến Xương. Cựu học sinh trường cấp III Lê Quý Đôn tp. Thái Bình. Học đại học Thủy lợi và đại học Bách khoa Hà Nội (1959-1963). Công tác tại Viện Khoa học nông nghiệp (1964 -1972). NCS tại Bungari (1974-1978), bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 1978 tại Bungari, chuyên ngành Thủy nông. Công tác tại Văn phòng UBND t. Thái Bình (1979-1980). Chức vụ chính quyền: Phó giám đốc, Giám đốc Sở Thủy lợi (1980-1985); Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch HĐND tỉnh (1986-1994). Về công tác Đảng: Bí thư Huyện ủy Đông Hưng (1985-1986), Tỉnh ủy viên (1983-1986), ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy (1986-1991), Phó Bí thư Tỉnh ủy (1991-1994), Bí thư Tỉnh ủy (3/1994 -10/1997). Đại biểu Quốc hội khóa VIII, IX.

Trong thời gian ông làm Bí thư Tỉnh ủy, nội bộ lãnh đạo tỉnh mất đoàn kết; tình hình chính trị - xã hội ở địa phương mất ổn định nghiêm trọng, kéo dài. Bộ Chính trị BCHTƯĐCSVN đã quyết định thi hành kỷ luật ông bằng hình thức cách chức ủy viên BCH Đảng bộ t. Thái Bình.

4710. Vũ Mùi (? - 1943)

Sinh quán x. Tân Hòa, h. Vũ Thư, t. Thái Bình, là cán bộ thoát ly của Xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 1938, phụ trách phong trào cách mạng t. Tuyên Quang. Cuối 1938, lãnh đạo hai cuộc đình công của công nhân mỏ than Tuyên Quang đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, cúp phạt. Bọn chủ mỏ phải chấp thuận tăng lương 10%, thợ đốt lò được tăng 5 xu/ ngày. Đầu năm 1940, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập chi bộ đảng ở Tuyên Quang, Vũ Mùi được chỉ định làm bí thư. Sau đó, đội tự vệ mỏ cũng được thành lập để bảo vệ và hỗ trợ các hoạt động của quần chúng. Cuối 1940, Xứ ủy điều Vũ Mùi về Quảng Ninh, cuối 1943 trở lại bắt liên lạc với cơ sở cũ ở  h. Vĩnh Tường, t. Vĩnh Yên. Do bị bệnh nặng, biết không thể sống được nữa, để bảo vệ cơ sở, đồng chí đã ra đi và mất tại điếm canh đê l. Thùng Mạch Hạ (nay thuộc x. Thượng Trưng, h. Vĩnh Tường, t. Vĩnh Phúc).  Đảng bộ và nhân dân t. Tuyên Quang coi Vũ Mùi là một nhà lãnh đạo tiền bối của Đảng bộ. Một đường phố ở tx. Tuyên Quang được  mang tên Vũ Mùi.

4711. Vũ Nghị 武 毅

Xã cũ, từ cuối tk. XIX về trước là x. Vũ Nghị. Theo tài liệu của Tòa Sứ Thái Bình ngày 1-1-1893, x. Vũ Nghị đã được đổi là x. Vũ Công. Quyết định số 27 ngày 26-6-1902 của Thống sứ Bắc Kỳ thành lập x. Vũ Biên trên cơ sở th. Tân Biên x. Vũ Công. Như vậy, x. Vũ Nghị được chia lập làm 2 xã Vũ Công và Vũ Biên.

Xem: Vũ Biên , Vũ Công (xã cũ).

4712. Vũ Ngọc Nhạ (1928 - 2002)

Thiếu tướng tình báo (1990). Quê l. Cọi Khê, nay là x. Vũ Hội, h. Vũ Thư. Tuổi thơ học ở tx. Thái Bình, sau theo bố vào Huế học trường trung học Thuận Hóa. 1946 về quê, nhập ngũ 1947, từng là Thị ủy viên tx. Thái Bình. Tại Hội nghị Chiến tranh du kích ở Việt Bắc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã giới thiệu Vũ Ngọc Nhạ với Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chính Bác Hồ đã giao nhiệm vụ tình báo chiến lược cho Vũ Ngọc Nhạ trước khi cài ông "di cư" vào Nam. 1958-1960, bị địch bắt giam ở Huế, nhưng không tìm được chứng cớ, được trả tự do. 1961-1963, làm cố vấn cho Ngô Đình Diệm. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, Nguyễn Văn Thiệu cũng tin dùng Vũ Ngọc Nhạ. Ông trở thành cố vấn đắc lực cho nền Đệ nhị Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trong khi đó, tình báo Mỹ và bộ máy mật vụ của chính quyền Sài Gòn luôn luôn để ý canh chừng "Ông cố vấn" và cũng rất bối rối hoang mang trước hành tung ẩn hiện của ông. Năm 1969, CIA ép Nguyễn Văn Thiệu bắt Vũ Ngọc Nhạ và cụm tình báo A22, Vũ Ngọc Nhạ lãnh án chung thân bị đày ra Côn Đảo. Tháng 7-1973, trong đợt trao trả tù binh, Vũ Ngọc Nhạ được đưa ra Lộc Ninh với danh xưng là "Linh mục Giải phóng". Năm 1974, ông về Củ Chi xây dựng lưới tình báo chuẩn bị tổng tấn công. Sau giải phóng miền Nam, hoàn thành nhiệm vụ, ông lui về ẩn cư ở số nhà 47A, đường Nguyễn Văn Mai, ph. 8, q.3, tp. Hồ Chí Minh.

Cuộc đời hoạt động trong lòng địch của ông được nhà văn Hữu Mai viết thành bộ 3 tập tiểu thuyết nổi tiếng Ông Cố vấn , sau đó được dựng thành phim. Ông là Trưởng Ban liên lạc đồng hương Thái Bình tại tp. Hồ Chí Minh cho đến khi mất (6 giờ 47 phút ngày 7-8-2002).

Vũ Ngọc Nhạ và vợ về thăm quê hương Thái Bình

4713. Vũ Ngọc Sơn (s. 1948)

Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới (tuyên dương 13-11-2000), quê x. Thụy Ninh, h. Thái Thụy, đảng viên ĐCSVN, kỹ sư kinh tế vận tải biển. Khi được tuyên dương Anh hùng là ủy viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam, Phó bí thư Đảng ủy cơ quan Tổng công ty, Chủ tịch HĐQT công ty liên doanh GEMANTRANS (Việt Nam) LID,  Chủ tịch hiệp hội Chủ tàu Việt Nam. Từ năm 1995 đến nay với cương vị Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Vũ Ngọc Sơn đã dám nghĩ, dám làm, sáng tạo… đóng góp quan trọng vào sự phát triển ngành vận tải biển và sự phát triển của đất nước. Được tặng bằng khen của Chính phủ (1995-1997), Huân chương lao động hạng ba (1993-1997) về thành tích lao động sản xuất.

4714. Vũ Ninh

Xã  thuộc h. Kiến Xương. Thành lập năm 1955, gồm các thôn: Cổ Am, Cổ Ninh, Đồng Vàng (Nam Điền), Niềm Thượng, Niềm Hạ (trong kháng chiến là x. Trưng Trắc). Năm 2003, tổ chức lại thành 10 thôn: Đồng Vàng, Độc Lập (xưa còn gọi xóm Đoài), Đại Đồng, Đông Hoà, Bắc Sơn, Cổ Am, Hoà Bình, Nam Sơn, Tây Hoà, Trung Hoà. Diện tích tự nhiên 532,5 ha. Dân số 8236 nhân khẩu, gồm 2246 hộ.

Nằm dọc theo đường 39B, giao lưu thuận lợi. Nhân dân sống bằng nghề nông. Được coi là một xã đa nghề. Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển, đời sống nhân dân vào lọai khá của huyện. Còn 3 chùa, có từ đường họ Lại được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Trong KCCP, du kích xã đã có những trận đánh cắt đường 39B, có trận mở đường để đưa đồng chí Văn Tiến Dũng đi hoạt động. Hàng nghìn thanh niên Vũ Ninh đã lên đường đi chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Có 9 Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

4715. Vũ Phúc

Xã thuộc tp. Thái Bình. Thành lập năm 1955, gồm 3 thôn Phúc Khánh (Thượng, Nội, Hạ), Thanh Miếu (l. Giường), Cự Phú. Trước 1945, các làng trên thuộc tg An Lão, h. Thư Trì, sau 1945 sáp nhập về h. Vũ Tiên  (trong KCCP là x. Hùng

Thắng).  Năm 1969, x. Vũ Phúc thuộc h. Vũ Thư. 1986 sáp nhập vào tx. Thái Bình. Năm 2003, tổ chức lại thành 8 thôn: Phúc Khánh, Phúc Thượng, Bắc Sơn, Thanh Miếu, Cự Phú, Đông Hạ, Phúc Hạ, Tây Hạ. Diện tích tự nhiên 447,4ha.  Dân số 8150 nhân khẩu, gồm 2227 hộ.

Thế đất cao, có sông Kiến Giang chảy ở phía đông, thuận lợi cho giao lưu và sản xuất cây rau màu hàng hóa. Ngoài làm ruộng, những năm gần đây phát triển thêm nghề trồng dưa hấu, trồng rau... Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển, đời sống nhân dân vào lọai khá của thành phố. Vũ Phúc có 2 trường đạt chuẩn quốc gia là trường tiểu học và THCS. Hiện còn 1 chùa, 1 đình, 1 phủ. Có 6 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 60 liệt sĩ, 51 thương binh.

Cánh đồng 50 triệu đồng/ ha/năm (8-2004)

4716. Vũ Quang Côn (s. 1944)

Giáo sư Sinh học (1996), Tiến sĩ khoa học (1986), quê l. Sen, x. Trọng Quan, h. Đông Hưng. 1975, Bảo vệ thành công luận án TS Sinh học, sau đó công tác tại Viện Sinh vật học Viện Khoa học Việt Nam. 1983 - 1986, thực tập sinh cao cấp tại Viện Động vật Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. 1986, bảo vệ thành công luận án TSKH. 1991, Phó Giáo sư; 1996, Giáo sư. Từ 1986 đến nay: Công tác tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Các chức vụ đã đảm nhiệm: Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học (1986-1997); Phó Viện trưởng (1997 - 1998); Viện trưởng (1998 - 2004); đại diện nhóm bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học của Việt Nam tại ASEAN, ủy viên Hội đồng ASEANET của ASEAN, ủy viên Hội đồng quản trị PROSEA thuộc ASEAN (1998 - 2004); Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (2004 - 2009); ủy viên thư ký Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Sinh học (2001 - 2007). Hiện là Phó Chủ tịch Tổng hội các ngành Sinh học Việt Nam, Chủ tịch Hội Côn trùng học Việt Nam, ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, ủy viên Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (2009-2014), Chủ tịch Hội đồng Chức danh Giáo sư ngành Sinh học (2009-2014). Có trên 100 công trình công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước; 4 đầu sách chuyên khảo đã được xuất bản tại Nga và Việt Nam; chủ nhiệm 11 đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ, chủ trì biên soạn và xuất bản 19 tập Động vật chí và Thực vật chí Việt Nam; có 4 tập thơ in riêng, nhiều tập  thơ in chung và một số bài lý luận văn học đăng trên báo, tạp chí. Hướng dẫn và đào tạo được nhiều Cử nhân, Thạc sĩ và 14 Tiến sĩ sinh học.

4717. Vũ Quý

thuộc h. Kiến Xương - Đơn vị Anh hùng LLVTND (tuyên dương ngày 3-11-2004). Thành lập năm 1955, gồm 2 thôn Đông Quý (còn gọi là l. Sóc) và Hanh Cù (trong kháng chiến là x. Thường Kiệt). Những năm 90 xã chia làm 5 xóm. Năm 2003, chuyển 5 xóm thành 5 thôn, gọi theo con số từ 1 đến 5.  Diện tích tự nhiên là 280 ha. Dân số 5223 nhân khẩu, gồm 1287 hộ.

Xã nằm trên trục đường 39B, cách tp. Thái Bình 7 km và cách  thị trấn huyện Kiến Xương gần 6km, nằm sát sông Kiên Giang, vì vậy Vũ Quý có vị trí chiến lược trong chiến tranh và sản xuất. Trước cách mạng Vũ Quý là phủ lỵ p. Kiến Xương, gọi là Phủ Sóc. Hiện còn chùa Hanh Cù và chùa Đại Ngạn. Nhà thờ 4 Quận công và văn thân Nguyễn Năng được xếp hạng DTLS cấp nhà nước. 1925-1927, một số thanh niên ở Động Trung (nay là Vũ Quý, Vũ Trung) đã tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin bằng con đường xuất dương sang Quảng Châu. Năm 1930 đã có tổ chức cơ sở Đảng. Những năm đầu cách mạng tháng Tám, nhân dân Vũ Quý đã góp 60 chỉ vàng, 96 lạng bạc, tích cực xây dựng LLVT, luyện tập quân sự, rào làng kháng chiến. Xã có 1 trung đội thường trực chiến đấu (36 người), một trung đội Bạch đầu quân, 3 trung đội dân quân, 1 đội cứu thương, 1 đội cứu hoả... Thôn xóm nào cũng đào hào, đào hầm. Trên đường 39B, các đường 222, 223 và cả đường thôn ngõ xóm đều bị cắt thành hào, đắp ụ đất để ngăn xe cơ giới địch. Nhân dân đã quyên góp tiền mua được 12 súng trường, 2 súng ngắn, hàng trăm mìn và lựu đạn... Ngoài ra, lại tự tạo được 3673 vũ khí thô sơ. Đã chiến đấu 65 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 272 tên, làm bị thương 257 tên, gọi hàng 13 tên, bắt sống 26 tên, thu 79 súng các loại, 172 quả mìn, 92 lựu đạn cùng nhiều quân trang quân dụng.

Vũ Quý có 10 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 107 liệt sĩ, 54 thương binh, 597 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại. Xã được thưởng 4 Huân chương Kháng chiến (1hạng nhất, 2 hạng nhì, 1 hạng 3), 1 Bằng có công với nước.

4718. Vũ Quý Mão

Tri huyện Duyên Hà, Hưng Nhân, rồi Tri phủ Kiến Xương - đảng viên Đại Việt Quốc dân Đảng. Đầu tháng 5-1945, đồng chí Nguyễn Chương, cán bộ Xứ ủy Bắc Kỳ viết thư thuyết phục Vũ Quý Mão, vận động mua tín phiếu ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Bức thư được Nguyễn Đức Tâm giao cho  Nguyễn Công Thu đưa trực tiếp, Vũ Quý Mão hứa sẽ ủng hộ Việt Minh. Khi bùng nổ khởi nghĩa giành chính quyền ở các phủ, huyện trong tỉnh, Vũ Quý Mão vẫn nằm coi đê thuộc địa hạt đê Trà Lý. Đồng chí Nguyễn Công Thu mang thư của Tỉnh bộ Việt Minh đến tận nơi thuyết phục Vũ Quý Mão đầu hàng. Khoảng 1 giờ chiều 22-8-1945, khi quần chúng từ các ngả đổ về vây quanh phủ lỵ Kiến Xương, nổ mấy phát súng hiệu, rồi tiến vào chiếm lĩnh phủ đường. Vũ Quý Mão đã giao nộp cho cách mạng 12 khẩu súng và toàn bộ sổ sách, công sở. Trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, Vũ Quý Mão được bầu vào Quốc hội khóa I, là đại biểu của t. Thái Bình. Ngày 29-5-1946, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 83, cử Vũ Quý Mão sung chức Giám đốc Nha Pháp chính Bộ Nội vụ, dưới quyền Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng. Sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12-1946), nhóm Đại Việt quan lại cũ quay sang hợp tác với Pháp và Bảo Đại. Ngày 25-9-1948, Bảo Đại ký Sắc lệnh bổ nhiệm Vũ Quý Mão làm Đặc vụ viên.

Theo hồ sơ lưu trữ tại Văn phòng Quốc hội, Vũ Quý Mão ở trong vùng địch làm tay sai cho địch, hợp tác với địch trong các tổ chức. Tòa án quân sự Liên khu III đã xin truy tố (công văn 184 A, ngày 26-2-1949) và đã được Trưởng Ban thường trực Quốc hội cho phép (công văn số 144 QH, ngày 23-3-1949). Sau, Vũ Quý Mão làm đại diện chính phủ bù nhìn tại Pháp (công văn 17382 HC/LK. III ngày 25- 12-1949). Tòa án quân sự Liên khu III kết án tử hình, tịch thu cả tài sản (án số 52, ngày 16-1-1950).

4719. Vũ Sơn

Xã thuộc h. Kiến Xương, cách ttr. Thanh Nê 15km. Thành lập năm 1956, gồm th. Đồng Lạc và th. Nam Sơn (một thôn của x. Lại Trì xưa). Trong KCCP, Đồng Lạc thuộc x. Vân Thượng, Nam Sơn thuộc x. Tây Hồ). Sau ngày thành lập, x. Vũ Sơn chia làm 9 xóm. Năm 2003, tổ chức lại thành 4 thôn: Đại Du, Quyết Tiến, Tân Hùng, Trung Bắc. Diện tích tự nhiên 253,4 ha.  Dân số 2960 nhân khẩu, gồm 980 hộ. Thế đất đai bằng phẳng, thấp trũng, hay bị nhập lụt. Nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông, sản phẩm chính là lúa. Một số người làm nghề đan mây tre, làm móc câu.

Có 50 gia đình liệt sĩ, 57 thương binh, 320 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.

4720. Vũ Tây

Xã thuộc h. Kiến Xương, cách ttr. Thanh Nê 12km về phía tây bắc. Thành lập năm 1956, nguyên là x. Tây Hồ. Vũ Tây vốn xa xưa là l. Lại Trì, 1947 Lại Trì chia làm 4 thôn: Bạch Đằng, Đồng Đa, Mê Linh, Lam Sơn. Khi lập x. Vũ Tây chỉ có 3 thôn, tách Lam Sơn về x. Vũ Sơn. Năm 2003, chia làm 9 thôn: Tiền Phong, Quang Minh, Hợp Tiến, Bình Sơn, Đồng Tâm, Thống Nhất, Hoa Nam, Đại Hải, Vân Hồng (nguyên là 9 xóm đưa thành 9 thôn). Diện tích tự nhiên 698,6 ha. Dân số 9291 nhân khẩu, gồm 2535 hộ.

Nằm cạnh sông Trà Lý, đồng ruộng thấp trũng, hay bị ngập lụt. Nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông, sản phẩm chính là lúa. Nghề thủ công đan mây tre, thêu ren, xay xát, thợ mộc. Vũ Tây có  nhiều lao động thường xuyên đi làm ăn xa, chủ yếu là ở các tỉnh miền núi, nhiều người là chủ thầu các công trình làm đường, xây dựng nhà cửa... có thu nhập cao, song cũng là xã có tệ nạn nghiện hút cao ở Thái Bình.

Đình Lại Trì và chùa Am được xếp hạng DTKTNT cấp tỉnh. Có 7 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 1 Anh hùng LLVTND, 1500 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.

Ngày hội

4721. Vũ Thanh Hoa (s. 1952)

Trung tướng CANDVN (2010). Quê x. Thái Hòa, h. Thái Thụy. Sau khi tốt nghiệp đại học An ninh nhân dân (1976), công tác tại Bộ Công an. 1993-1996, thư ký riêng của ủy viên Bộ Chính trị, Thượng tướng, Bộ trưởng Bộ Công an Bùi Thiện Ngộ. 1997 được bổ nhiệm Phó Chánh Văn phòng Bộ Công an, từ 2002 kiêm Thư ký riêng của ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công An Lê Hồng Anh. Tháng 4-2006, được bổ nhiệm chức vụ Chánh Văn phòng Bộ Công an, Chánh Văn phòng Đảng ủy Công an Trung ương, ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương. Hiện nay là Trung tướng, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Công an. Khen thưởng: Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Hữu nghị của Nhà nước CHDCND Lào.

4722. Vũ Thắng

Xã thuộc h. Kiến Xương - Đơn vị Anh hùng  Lao động (1976), Anh hùng LLVTND (2006). Cách ttr. Thanh Nê 9 km đi theo đường 39B và 219 về phía tây bắc. Thành lập năm 1955, gồm l. Đông Nhuế xưa. Sau khi thành lập xã chia làm 8 xóm (trong kháng chiến là x. Cao Thắng, h Vũ Tiên). Năm 2003, x. Vũ Thắng đưa 8 xóm lên thành 8 thôn và cũng gọi theo số thứ tự từ 1 đến 8. Diện tích tự nhiên 419,58 ha. Dân số 5100 khẩu, gồm 1530 hộ.

Thế đất thấp trũng, đất đai kém màu mỡ. Nhân dân sống bằng nghề nông, sản phẩm chính là cấy lúa và chăn nuôi. Có nghề đan mây. Vũ Thắng đã tích cực cải tạo đất, làm thủy lợi, thâm canh cây lúa và phát triển chăn nuôi vào những năm 70-80, là lá cờ đầu về thâm canh, trở thành Đơn vị Anh hùng lao động. Xã có hệ thống cơ sở vật chất phục vụ sản xuất và đời sống được xây dựng kiên cố. Hiện có hơn 200 người đang theo học ở các trường đại học và cao đẳng. Có 206 liệt sĩ, 62 thương binh, 3 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 1 Anh hùng lao động, hơn 1000 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.

4723. Vũ Thị Hoa  (1572 - 1593)

Liệt nữ thời Lê Trung hưng, quê l. Bương Hạ, h. Quỳnh Côi, nay là th. Bương Hạ, x. Quỳnh Ngọc, h Quỳnh Phụ. Tháng 11 năm Nhâm Thìn, Mạc Hồng Ninh thứ 2 (1592), quân nhà Mạc bị đánh bật ra khỏi Thăng Long, phải chạy đi Kim Thành (Hải Dương). Đầu năm Quý Tỵ (1593), quân Mạc phản công lấy lại hầu hết 3 phủ Thái Bình, Tân Hưng, Kiến Xương. Khi quân nhà Lê định vượt qua đồng vào l. Hạ Phán thì quân Mạc đã phục kích ở miếu Rậm. Vũ Thị Hoa đã lấy roi chăn trâu làm cán, lấy áo làm cờ báo hiệu cho quân triều biết có phục binh, quân triều kịp chuyển sang thế chủ động, đánh thắng quân Mạc nhưng Vũ Thị Hoa thì bị quân Mạc giết chết. Ký vụ quân Lê kịp ghi chuyện ấy vào sổ rồi đi kinh thành. Quân Mạc trở lại tìm họ Vũ để trả thù, cha Vũ Thị Hoa đổi sang họ Lê và trốn sang làng khác. Đời Vĩnh Thịnh (1705-1729), xét gương dũng cảm của Vũ Thị Hoa - cô gái nhỏ 14 tuổi, đã ban tặng là "Trăng Non công chúa". Dân gian thì cho rằng nàng là con nhà trời nên lập miếu thờ và gọi là "Thiên Hoa thần nữ".  Sự tích của Vũ Thị Hoa được nhắc qua chuyện: "Sinh ư tính Vũ, thác ư tính Lê hoặc sinh ư triều Mạc, thác ư triều Lê" (Lúc sống họ Vũ, lúc chết họ Lê, sinh vào thời Mạc, thác vào thời Lê).

4724. Vũ Thôn

Bến đò vượt sông Luộc, bên tả là x. Phù Tiên, h. Phù Cừ, t. Hưng Yên, bên hữu là x. Cộng Hòa, h. Hưng Hà, cách bến đò Nhượng Vũ 1 km. Xưa, sử dụng đò gỗ, nay cũng thay bằng thuyền sắt.

4725. Vũ Thôn

Đình thuộc th. Vũ Thôn, x. Cộng Hòa, h. Hưng Hà. Tọa lạc trên khuôn viên rộng 1.565 m 2 . Bố cục kiểu chữ "đinh". Đại bái 5 gian. Hậu cung 3 gian. Đồ thờ tự đáng chú ý là bức cuốn thư "sơn then" điêu khắc đẹp, cẩn chữ bằng trai ốc (bị bong nhiều), 1 cỗ ngai rồng sơn son thếp vàng và 1 bài vị cổ. Thờ Không Thuyền Đại vương, thần tên là Đinh Công Phẩm, quê tại Bạch Hạc, được Hùng Duệ Vương cử về trị nhậm đất Ngự Thiên, có công giáo hóa dân Vũ Thôn - Hiệu Vũ, sau dẫn 3 con trai và tráng đinh giúp vua bình Thục Phán. Ngày 18-12 thần tạ thế, dân xã tôn làm Phúc thần.

Các năm 1936, 1937, đình đã là địa điểm truyền bá và dạy chữ Quốc ngữ, sinh hoạt hội Tương tế, ái hữu… Năm 1943, dân đấu tranh chống phá lúa trồng đay. Thời kỳ 1946-1949, là nơi tập trung huấn luyện của Trung đoàn 42 và là Văn phòng Huyện ủy các h. Hưng Nhân (Thái Bình), Tiên Lữ (Hưng Yên). Được xếp hạng DTLS, DTKTNT cấp tỉnh (2003).

4726. Vũ Thư

Huyện - Đơn vị Anh hùng LLVTND thời kỳ KCCP (tuyên dương ngày 8-11-2000) . Thành lập 17-6-1969 trên cơ sở hợp nhất h. Vũ Tiên và h. Thư Trì thành một huyện lấy tên là h. Vũ Thư. Khi thành lập có 42 xã (28 xã của h. Thư Trì, 14 xã của h. Vũ Tiên). Năm 1977 tách nhập một số xã, 1982 đưa một số xã về thị xã, đến 2005 có 30 xã, 1 thị trấn. Diện tích tự nhiên 19.843,24ha.  Dân số 227.058 người.

Nằm trên quốc lộ 10, cách tp. Thái Bình 6 km, 3 mặt được bao bọc bởi sông Hồng và sông Trà Lý, được phù sa các sông bồi đắp nên đất đai màu mỡ, có nhiều bãi sông. Có những làng nghề nổi tiếng cả nước từ xa xưa như l. Giai, l. Thuận Vi  trồng dâu nuôi tằm kéo sợi; l. Bộ La dệt lụa; l. Cọi Khê chế biến nông sản thực phẩm; l. Bồng Tiên, l. Keo chế biến thực phẩm... Đã có xã nghề như x. Minh Lãng với nghề thêu ren được phổ biến ở nhiều nơi. Đã hình thành các cụm công nghiệp tập trung, xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, có nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ.

Vũ Thư có sông Hồng, sông Trà Lý, quốc lộ 10, tỉnh lộ 223, 224; có hệ thống cống dưới đê, trạm bơm, hệ thống dẫn nước vào đồng đáp ứng yêu cầu tưới tiêu...

Đất Vũ Thư hình thành không đồng đều, sớm muộn khác nhau, cao thấp cũng khác nhau. Có vùng đất đã có trên 2000 năm lịch sử, phía bắc huyện còn dấu tích của nhiều mộ Hán và những đền thờ tướng suý thời Hùng vương và thời Hai Bà Trưng. Là căn cứ dấy nghĩa của Lý Bí; từng được đón vua các triều Lý, Trần, Lê về thăm; nơi yên nghỉ của nhiều quốc sư, nhiều hoàng tộc, công chúa; là huyện còn có đủ bia các thời Trần, Lê, Nguyễn.... Thời phong kiến, đã có những danh nhân, những đại khoa, những làng khoa bảng tiêu biểu như Ngoại Lãng, An Để. Người khai khoa đầu trên ở Thái Bình là Đặng Nghiễm, quê Vũ Thư. Điều đặc biệt, Vũ Thư là nơi gặp gỡ của nhiều quốc sư: Đỗ Pháp Thuận, Đỗ Đô, Dương Không Lộ, Từ Đạo Hạnh. Có những ngôi chùa lớn, xây dựng sớm, nơi tu hành của các pháp sư như chùa Keo, chùa Lạng, chùa Múa, chùa Ông Lâu… Có nhiều danh thắng nổi tiếng. Lễ hội dân gian và các trò chơi, trò diễn dân gian còn được lưu giữ rất nhiều. Thời phong kiến, có nhiều làng được ban phong "Mĩ tục khả phong".

Trong KCCP, nhân dân và lực lượng vũ trang h. Vũ Thư đã tổ chức 800 trận chống càn; hàng trăm trận phục kích; 11 đợt phá tề; 41 trận công đồn; vô hiệu hóa 360 lượt ban tề; diệt 20 đồn, bốt, tháp canh; diệt trên 500, bắt 516 tên địch; vận động hàng nghìn tên bỏ ngũ; bắn cháy 4 ca nô; thu hàng nghìn vũ khí, quân trang quân dụng. Đóng góp 10 lạng vàng, 2kg bạc, hàng vạn tấn lương thực thực phẩm, hàng nghìn tấn rau xanh và hoa quả các loại. Nuôi dấu, bảo vệ hàng trăm cán bộ, bộ đội. Góp hàng chục nghìn ngày công phục vụ bộ đội chiến đấu. Đào hàng nghìm mét giao thông hào, hàng nghìn hầm trú ẩn. Nhường hàng trăm nhà cho bộ đội ở, làm kho. Được tặng thưởng hàng nghìn Huân, Huy chương, Bằng khen, Giấy khen và các phần thưởng cao quý khác.

4727. Vũ Thư

Thị trấn, thành lập ngày 13-12-1986 trên cơ sở 92,55 ha diện tích tự nhiên với 3670 nhân khẩu của x. Minh Quang và 17,86 ha diện tích tự nhiên với 1575 nhân khẩu của x. Hoà Bình. Chia làm 5 khu dân cư: An Bình, Hùng Tiến, Trung Hưng và Minh Tân, Minh Tiến. Diện tích tự nhiên 110,41 ha. Dân số 5245 nhân khẩu. Nằm trên quốc lộ 10, cách tp. Thái Bình 6km, cách tp. Nam Định 11km. Năm 2003 thị trấn tổ chức thành 10 tổ dân phố: An Bình 1, An Bình 2, Hùng Tiến 1, Hùng Tiến 2, Minh Tân 1, Minh Tân 2, Minh Tiến, Trung Hưng 1, Trung Hưng 2, Trung Hưng 3. Hiện có 1091 hộ với 4055 nhân khẩu. Nhân dân sống bằng nghề nông, kinh doanh dịch vụ và sản xuất hàng thủ công. Hiện vẫn còn một số diện tích cấy lúa (107 mẫu) nhưng không chuyên vào sản xuất nông nghiệp mà đã chuyển sang buôn bán nhỏ, chế biến lương thực làm đậu, bún, giá đỗ, một số hộ đan mây tre, sơn mài...

Có sông Thống Nhất chảy qua (dân gian gọi là sông Thẫm), có 2 cầu qua sông Thẫm. Chợ Thẫm họp hàng ngày. Thị trấn có nhiều công trình được xây dựng kiên cố như trung tâm học tập cộng đồng, thư viện, trạm y tế. Hàng năm có hội chùa Thẫm.. Thị trấn có 44 liệt sĩ, 69 thương binh, 1550 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.

4728. Vũ Tiên 武 先

Huyện cũ trước 1945: Vốn là h. Bố thời Trần, Hồ. Thời kỳ nhà Minh cai trị (1414-1427) bị sáp nhập vào h. Kiến Xương. Thời Lê lập lại h. Bố, đổi là h. Vũ Tiên. Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, đầu tk. XV h. Vũ Tiên thuộc p. Kiến Xương, có 38 xã. Theo Bản đồ Hồng Đức (1490), h. Vũ Tiên thuộc p. Kiến Xương, có 38 xã, 1 phường. Theo Dư địa chí của Phan Huy Chú, cuối tk. XVIII h. Vũ Tiên thuộc p. Kiến Xương, có 38 xã. Theo sách Các tổng trấn xã danh bị lãm , đầu tk. XIX h. Vũ Tiên 7 tổng, 45 xã, thôn, phường. Theo sách Đại Nam nhất thống chí , nửa cuối tk. XIX và sách Đồng Khánh địa dư chí , cuối tk. XIX h. Vũ Tiên thuộc p. Kiến Xương, có 7 tổng; 45 xã, thôn, trang, giáp, lý. Năm Tự Đức thứ 14 (1861) sáp nhập vào p. Kiến Xương [bỏ tri huyện, do phủ kiêm nhiếp], phủ lỵ đặt ở địa phận x. Kỳ Bố (nay thuộc tp. Thái Bình). Sau khi thành lập t. Thái Bình (1890), h. Vũ Tiên được nhận thêm các xã, thôn của h. Giao Thủy (t. Nam Định) ở bên tả ngạn sông Hồng: Thái Hạc, Thái Lương, Thái Thuận, Thái Xa, Bồng Tiên, Dũng Nghĩa, Đức Long, Hành Nghĩa, Hành Tiên, La Xuyên, Tả Hành, Trạng Đầu, Thái Nghĩa, Thái Phú.... Đầu tk. XX, h. Vũ Tiên có 8 tổng, 59 xã.

4729. Vũ Tiên

Huyện cũ sau 1945: Tháng 3-1949, địa giới h.  Vũ Tiên được điều chỉnh như sau:

* Cắt 3 thôn: Phúc Khánh Thượng, Phúc Khánh Hạ, Thanh Miếu từ h. Thư Trì sang h. Vũ Tiên .

* Cắt các thôn: Bồ Xuyên, Thọ Bi, Ô Mễ, Tường An, Đồng Thanh, Nhân Thanh, Phú Lạc, Đoan Túc, Đại Hội từ h. Vũ Tiên sang h. Thư Trì.

* Cắt các thôn: Bình Trật, Nguyệt Giám từ h. Vũ Tiên sang h. Kiến Xương.

* Cắt các thôn: Tống Vũ, Kỳ Bá, Lạc Đạo, An Tập, An Chính, Tam Lạc, Đồng Lôi từ h. Vũ Tiên về thị xã.

* Cắt các thôn An Điềm, Trình Hoàng, Lại Trì, Đông Trì, Cổ Ninh, Đồng Quan, Xuân Vũ, Thái Công, Động Trung, Đông Nhuế, Đông Vinh, Cổ Am từ h. Kiến Xương sang  h. Vũ Tiên.

Đồng thời chia lại đơn vị hành chính cấp xã, mỗi xã mới gồm một số xã, thôn cũ trước 1945; h. Vũ

Tiên có 15 xã:

- Cao Thắng , gồm: Bộ La, Đông Nhuế, Đông Vinh.

- Duy Nhất , gồm: Bồng Tiên, Hành, Dũng Nghĩa (nhập Hành Nghĩa + Dũng Nghĩa), Thái Lai, La Xuyên, Trang Đầu.

- Đông An, gồm: An Thái, Đông Đoài, Thuận An.

- Hội An , gồm: Cọi Khê, Cổ Am, Lũy Trại (Cổ Lũy).

- Đồng Lạc , gồm: Đông Trì [1] , Tam Lạc.

- Hợp Tiến , gồm: Cổ Việt, Thái Hạc.

- Hùng Thắng , gồm: Cự Phú, Lạc Chính, Phúc Khánh Thượng, Phúc Khánh Hạ, Thanh Miếu.

- Quang Thẩm , gồm: Kênh Đào, Phan Xá, Nghĩa Tường, Thái Phú, Tri Phong, Tương Đông, Khánh Tường.

- Tân Dân , gồm: Lịch Bài, Thái Sa, Văn Môn, Xuân Vũ.

- Tân Bình , gồm: Mộ Đạo, Nguyệt Lâm, Trà Vi, Thái Công.

- Tân Hợp , gồm: Văn Lang, Văn Lâm, Phú Nhuận, Tả Hành, Đức Long.

- Tây Hồ , gồm: Đông Đa, Lại Trì,  Mê Linh.

- Thường Kiệt , gồm: Đình Cả, Đông Quý, Hanh Cù.

- Trưng Trắc , gồm: Đồng Lạc, Đồng Quan, Đồng Vàng, Niềm Hạ, Tri Lễ.

- Vân Thượng , gồm: Đông Chú, Thượng Cầm, Trình Hoàng, Vân Động, Man Đích.

Đến cuối 1955, t. Thái Bình tiến hành CCRĐ, h. Vũ Tiên thành lập 28 xã mới. Lấy chữ "Vũ" (chữ đầu của tên huyện) làm chữ đầu của tên các xã: Vũ An, Vũ Bình, Vũ Công, Vũ Chính, Vũ Đông, Vũ Đoài, Vũ Hòa, Vũ Hội, Vũ Hồng, Vũ Hợp, Vũ Lãm [2] , Vũ Lạc, Vũ Long [3] ,  Vũ Lễ, Vũ Nghĩa, Vũ Ninh, Vũ Phúc, Vũ Phong, Vũ Quý, Vũ Sơn, Vũ Tây, Vũ Trung, Vũ Thắng, Vũ Thuận, Vũ Tiến, Vũ Vân, Vũ Vinh, Vũ Việt.

Tháng 6-1969, cắt 13 xã của h. Vũ Tiên: Vũ Trung, Vũ Quý, Vũ Tây, Vũ Đông, Vũ Hòa, Vũ Bình, Vũ Công, Vũ Thắng, Vũ An, Vũ Ninh, Vũ Lễ, Vũ Sơn và Vũ Lạc sáp nhập vào h. Kiến Xương. Các xã còn lại hợp nhất với h. Thư Trì thành h. Vũ Thư.

4730. Vũ Tiên huyện hào hội đệ nhất bi ký 武 先 縣 豪 會 第 一 碑 記

Bia không ghi năm dựng ở Văn chỉ hàng huyện (Vũ Tiên), thuộc x. Phú Lạc, tg Tri Lai, h. Vũ Tiên (nay thuộc x. Phú Xuân, tp. Thái Bình). Bia 2 mặt, khổ 1,10m x 0,68m. Gồm 35 dòng, khoảng 600 chữ. Trang trí rồng, phượng. Nội dung : Ghi những quy định của hội Tư văn về việc đóng góp ruộng cho hội và việc sử dụng ruộng đó của Văn chỉ h. Vũ Tiên. Có ghi vị trí, diện tích những thửa ruộng. N. 20179.

4731. Vũ Tiến

Xã thuộc h. Vũ Thư, cách ttr. Vũ Thư 10km về phía nam. Thành lập năm 1955 đến 7-1958 sáp nhập với x. Vũ Long nhưng vẫn giữ tên Vũ Tiến. Năm 1958, Vũ Tiến có các thôn: Bồng Tiên, Bồng Lai, La Xuyên, Trạng Đầu (trong KCCP thuộc x. Duy Nhất, h. Vũ Tiên). Năm 2003, tổ chức lại thành 11 thôn: Đông Tiên, Văn Long, Lục Tiên, Nam Tiên, Bát Tiên, Ngọc Tiên, Quần Tiên, La Trang, Tân Toàn, Bồng Lai, Song Thuỷ. Diện tích tự nhiên 780 ha. Dân số 10.307 nhân khẩu, gồm 2442 hộ. Nằm sát sông Hồng, đất đai màu mỡ thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.  Nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông. Có nghề nấu rượu và chế biến thực phẩm làm giò, chả. Từ năm 2000, xã đã tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển mạnh chăn nuôi, có đàn lợn vào lo ại nhiều nhất huyện.

Còn bảo tồn được 2 đình, 1 chùa và núi non bộ Nam Tiên. Tuy đã bị hư hại nhưng non bộ Nam Tiên là một cảnh quan hoành tráng. Có đền thờ Yết Kiêu. Làng mở hội vào 15-2 âm lịch; có tế lễ thánh, rước kiệu, đánh cờ, bơi lội, bắt vịt, hát chèo... Có 200 liệt sĩ, 90 thương bệnh binh, 12 Bà mẹ Việt Nam anh hùng,  2 lão thành cách mạng, 730 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.

4732. Vũ Tiến

Kè lát mái, tại km 169+900 đến km 172+250 đê Hồng Hà II, x. Vũ Tiến, h. Vũ Thư. Xây dựng năm 1912 và thường xuyên tu bổ, sửa chữa. Bằng đá hộc, dài 2350m, cao trình đỉnh (+2.70), chân (-8.00). Bãi bồi giữa sông Hồng ngày càng bồi cao và mở rộng, ép sát  chủ lưu vào chân kè, gây lở đoạn đầu và giữa.

4733. Vũ Tiến Đề (s. 1938)

Anh hùng LLVTND, tuyên dương ngày 22-12-1969, quê ở l. Phương Cúc, x. Đông Dương, h. Đông Hưng. Hai lần Chiến sĩ thi đua quyết thắng. Đảng viên, Chuẩn úy lái máy gạt tiểu đoàn 32 công binh, binh trạm 33, Đoàn 559.

Từ 3-1965, lái xe húc đất ở những trọng điểm cua chữ A trên đường số 20 A - nơi máy bay địch đánh phá ác liệt, có đợt liên tục cả tháng, có ngày đêm B52 rải liền 32 lần bom. Tháng 4-1967, trong lúc đang làm việc dưới bom đạn địch để kịp giải phóng trọng điểm bị bom vùi lấp cả người lẫn xe, bị tức ngực, trào cả máu mồm máu mũi. Tháng 3-1968, đoạn đường gần ngầm Tà Lê bị tắc, đồng chí đã làm việc suốt 12 tiếng đồng hồ, mặc cho máy bay đánh phá, lấp được 6 hố bom, thông đường trước thời gian quy định. Có lần 1 xe kéo pháo bị rệ ở trọng điểm, cả đoàn xe ùn tắc, trời lại sắp sáng, chỉ huy trưởng cho dùng bộc phá huỷ chiếc xe giải phóng đường nhưng đồng chí xung phong đưa xe lên kéo được xe pháo đến chỗ an toàn. Đã lấp được hơn 1000 hố bom, đẩy 30 quả bom nổ chậm xuống vực, kéo 70 ô tô chết dọc đường.

Được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 4 Huân chương Chiến công hạng ba.

4734. Vũ Tiến Hinh (s. 1948)

Giáo sư Lâm nghiệp (1996), Tiến sĩ (1983), Nhà giáo ưu tú. Quê x. Quỳnh Hưng, h. Quỳnh Phụ. 1973-2004: Cán bộ giảng dạy, chủ nhiệm bộ môn Điều tra Quy hoạch, P. Hiệu trưởng trường đại học Lâm nghiệp Hà Nội. Nghiên cứu chủ yếu về sinh trưởng và sản lượng rừng. Đã hướng dẫn thành công 5 luận án Tiến sĩ, 16 luận văn Thạc sĩ và 100 luận văn tốt nghiệp đại học. Tham gia giảng dạy và đào tạo 30 năm trong trường. Chủ nhiệm 5 đề tài cấp ngành đã nghiệm thu. Viết và xuất bản 3 giáo trình phục vụ cho sinh viên học tập và nghiên cứu trong nhà trường.

4735. Vũ Tiến Lộc (s. 1959)

Quê th. Đông Hồ, x. Thụy Phong, h. Thái Thụy. Tốt nghiệp Đại học Ngoại thương Hà Nội (1981), Tiến sĩ kinh tế (2003), Giáo sư thỉnh giảng Trường Đại học Quốc tế Tokyo, Nhật Bản (2008).

1981- 1984: công tác tại Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ. 1984 - 1986, nhập ngũ phục vụ tại trung đoàn 204, Bộ Tư lệnh pháo binh, sau trở về cơ quan cũ. 1991-1993, Phó Vụ trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ. Từ 1993, công tác tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, lần lượt giữ các chức vụ: Chánh văn phòng, Phó Tổng thư ký, Tổng biên tập báo Diễn đàn doanh nghiệp, Tổng thư ký, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Từ 2003 là Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Kiêm nhiệm các chức vụ: Chủ tịch UB hợp tác kinh tế Thái Bình Dương của Việt Nam, Chủ nhiệm UB công tác Đài Loan của Việt Nam, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp các nước ASEAN (2008-2010). Là ủy viên Đoàn chủ tịch UBTƯMTTQVN, Đại biểu Quốc hội t. Thái Bình  khoá X (2002-2007), XI (2007-2011), ủy viên ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội khóa X, ủy viên ủy ban Kinh tế của Quốc hội khóa XI.

4736. Vũ tộc từ đường bi ký 武 族 祠 堂

Bia dựng năm Thành Thái thứ 13 (1901) ở từ đường họ Vũ, x. Tống Vũ, tg Hội Khê, h. Vũ Tiên (nay là x. Vũ Chính, tp. Thái Bình). Bia 1 mặt, khổ 1,07m x 0,71m. Gồm 20 dòng, khoảng 450 chữ. Trang trí mặt trời, rồng. Nội dung : Ghi việc xây dựng từ đường, mua sắm đồ thờ và ruộng cúng tế của một chi họ Vũ. Có bài vị và ngày giỗ của một số người thuộc chi đó. N. 20182.

4737. Vũ Triệu Dung (tk. XV)

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa ất Mùi niên hiệu Hồng Đức năm thứ 6 (1475). Còn có tên Vũ Khởi Dung. Theo bia Văn Miếu Quốc tử  giám, ông quê l. Tô Đàm, h. Phụ Dực, p. Thái Bình, nay là th. Tô Đàm, x. An Mỹ, h. Quỳnh Phụ. Là cháu Hưng Nghĩa hầu Vũ Uy, công thần khai quốc triều Lê, một trong 18 người dự hội thề Lũng Nhai năm 1416. Vì vậy, từ nhỏ đã được vào học ở Quốc tử giám. Giỏi cả văn lẫn võ. Đỗ Hương cống chuyển sang ngạch võ ban, được lãnh chức Hùng Uy vị tráng tướng quân. Năm 1470-1471, nhiều lần tháp tùng vua Lê Thánh Tông trực tiếp cầm quân đi bình Chiêm. Chiến thắng trở về, được thăng chức Phó sử sứ phụ trách tứ thành binh mã trấn Sơn Nam. Sau khi đỗ Tiến sĩ,  chuyển làm Giám sát ngự sử Đông Đạo (từ Hải Dương đến Hải Phòng nay). Mất tại quê nhà. Hiện từ đường thờ ông vẫn còn ở làng.

4738. Vũ Trọng (1893 -1937)

Quê l. Trình Phố, nay thuộc x. An Ninh, h. Tiền Hải. Tháng 6-1926 sang Quảng Châu cùng Nguyễn Danh Đới, Nguyễn Tường Loan dự lớp huấn luyện cách mạng do VNCMTN tổ chức. Cuối 1926 về nước tuyên truyền cách mạng và gây dựng cơ sở ở Trình Phố và Thuận An (nay thuộc x. Việt Thuận, h. Vũ Thư). 1927 mở lớp dạy Quốc ngữ ở văn chỉ l. Trình Phố và thành lập chi bộ Hội VNCMTN Trình Phố, tổ chức các cơ sở cách mạng ở  An Khang, Thư Điền, Vũ Lăng (nay đều thuộc h. Tiền Hải). 1928 tham gia BCH  Tỉnh bộ Thanh niên Thái Bình. 6-1929 tham gia  thành lập  Tỉnh Đảng bộ cộng sản Thái Bình. Từ 1930 - 1937, Vũ Trọng vẫn giữ vững cơ sở để hoạt động. 1937 kẻ địch đã hãm hại đồng chí bằng thuốc độc hòa vào nước uống ở nhà một địa chủ trong làng. Qua đời ngày 6-2-1937,  thọ 44 tuổi.

4739. Vũ Trọng Cảnh (s. 1929)

Trung tướng (1990). Sinh quán th. Nội Lang, x. Nam Hải, h. Tiền Hải. Tham gia cách mạng 8-1945,  nhập ngũ 1-1946, vào Đảng 10-1947. Trong KCCP, chiến đấu trên địa bàn các tỉnh Thái Bình, Kiến An, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên. 1954, Phó chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 42 khu Tả Ngạn. 1955-1956: Phó phòng cán bộ sư đoàn phòng không 465 Bộ Tư lệnh Pháo binh. Thiếu tá (1958), học viên trường Chính trị trung cao cấp Bộ Tổng tư lệnh. Trung tá (1964), Trưởng ban tổ chức binh chủng Phòng không; Trưởng phòng tổ chức quân chủng Phòng không Không quân; Chủ nhiệm chính trị sư đoàn phòng không 365; Phó chính ủy, Bí thư đảng ủy sư đoàn phòng không 365, 377. Thượng tá (1970), Phó chủ nhiệm chính trị quân chủng Phòng không Không quân. Đại tá (1973), Chính ủy, Bí thư Đảng ủy sư đoàn phòng không 363; Chủ nhiệm chính trị quân chủng Phòng không Không quân; Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị quân chủng Phòng không Không quân; Cán bộ tổng kết công tác xây dựng Đảng tại Tổng cục Chính trị; Cục phó Cục Tổ chức mặt trận Tây Nam; Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị; Phó đoàn trưởng về chính trị, Bí thư Đảng ủy đoàn chuyên gia quân sự tại Lào; Chủ nhiệm chính trị quân chủng Phòng không; ủy viên hội đồng quân sự quân chủng, Trưởng ban lãnh đạo chính trị Cục chính trị theo cơ chế 07. Thiếu tướng (1984), Phó tư lệnh về chính trị, Bí thư Đảng ủy quân chủng Phòng không. Trung tướng, Phó tư lệnh về chính trị, Bí thư Đảng ủy quân chủng Phòng không; ủy viên dự khuyết BCHTƯ Đảng khóa VI. Nghỉ hưu 1994, tham gia Hội đồng hương Thái Bình tại tp. Hồ Chí Minh.

Khen thưởng: Huân chương KCCP hạng II, KCCM hạng I; Huân chương Quân công hạng II, III; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng I, II, III; Huân chương Tự do Lào... Huy hiệu 40 năm, 50 năm, 60 năm tuổi Đảng.

4740. Vũ Trọng Kiên (s. 1923)

Tên khai sinh là Tạ Ngọc Giản. Quê l. Thư Điền, nay thuộc x. Tây Giang, h. Tiền Hải. Tham gia cách mạng năm 1937 tại Thư Điền. Cuối 1944-1945 hoạt động Việt Minh, Bí thư thanh niên cứu quốc xã rồi Bí thư TNCQ h. Tiền Hải. 1-1946 được kết nạp vào ĐCS. 6-1946, Huyện ủy viên, Chủ nhiệm mặt trận Việt Minh huyện. Đầu 1947, Bí thư Huyện ủy h. Tiền Hải. 6-1947, Bí thư Huyện ủy h. Vũ Tiên. 10-1947, Phó trưởng ban Đảng vụ t. Thái Bình (lúc ấy gọi là Ban Tổ-Kiểm) và được cử vào Tỉnh ủy Thái Bình. 2-1949, lên công tác ở Ban Đảng vụ Liên Khu ủy III, được cử làm Phó trưởng Ban. 7-1950, lên công tác ở Ban Đảng vụ Trung ương (sau gọi là Ban Tổ chức Trung ương), được cử làm Vụ trưởng Vụ Cán bộ. Có năm sang làm Vụ trưởng Vụ Cán bộ Ban Công nghiệp Trung ương. 2-1966, Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương, từ 2-1979 kiêm nhiệm Trưởng Ban Tổ chức-Cán bộ của Chính phủ, đến 1982 không kiêm nhiệm nữa, chuyên trách công tác ở Ban Tổ chức-Cán bộ của Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ). 6-1988  nghỉ hưu. Theo yêu cầu của Bộ Nội vụ, ông tiếp tục tham gia với Bộ Nội vụ biên soạn truyền thống ngành tổ chức Nhà nước. Được tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng nhì, Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Mỹ) hạng nhất... Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng (2006).

4741. Vũ Trung

thuộc h. Kiến Xương - Đơn vị Anh hùng LLVTND chống Pháp (tuyên dương 10-4-2001). Thành lập 1955, nguyên là một phần của l. Động Trung, tg Thái Vũ, h. Vũ Tiên trước 1945; có 6 thôn, gọi theo số thứ tự từ thôn 5 đến thôn 10 (trong kháng chiến là x. Thường Kiệt). Năm 2003, tổ chức lại thành 8 thôn cũng gọi theo số thứ tự: 5A, 5B, 6. 7A, 7B, 8, 9, 10. Diện tích tự nhiên 355,9 ha; Dân số 6445 nhân khẩu, gồm 1769 hộ. Đất đai Vũ Trung xưa thấp trũng, nay đã được cải tạo, song đồng ruộng làng mạc còn xen kẽ. Nhân dân vừa làm ruộng vừa làm nghề thủ công.

Từ tk. XIX, đã là một trong những trung tâm KCCP xâm lược. Gia đình án sát Nguyễn Mậu Kiến cả cha, con, anh em đều chống Pháp. Chi bộ Đảng được thành lập từ 1930. Trong KCCP, quân và dân Vũ Trung phối hợp với bộ đội chủ lực chiến đấu trên 100 trận, diệt 408 tên địch, làm bị thương 300 tên, thu 116 súng.  Trong KCCM, có 6 đội tự vệ, 2 trung đội dân quân, tổ chức 2 trận địa phòng không, chiến đấu 15 trận, cùng với LLVT huyện bắn rơi 1 máy bay Mỹ. Động viên 750 thanh niên nhập ngũ; góp 8.950 tấn thóc, 850 tấn thực phẩm. Tổng kết thành tích chiến tranh giữ nước Vũ Trung có 206 liệt sĩ, 150 thương binh, 11 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 1 gia đình có công với nước, 4 lão thành cách mạng. Được tặng thưởng 3 Huân chương Kháng chiến hạng nhất, hạng ba; 10 Huân chương Lao động hạng nhất, hạng nhì, ba; 12 Huân chương Độc lập.

4742. Vũ Văn Tảo (s. 1930)

Giáo sư Thủy lợi (1984), Tiến sĩ (1965). Quê x. Tiến Đức, h. Hưng Hà. Đảng viên ĐCS VN. 1957-1965: Cán bộ giảng dạy, Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học trường đại học Bách khoa, Hà Nội. 1966: Chủ nhiệm khoa Thủy lợi - Cảng, trường đại học Xây Dựng, Hà Nội. 1976: Trưởng ban Đại học, Viện Nghiên cứu Đại học và Trung học chuyên nghiệp. 1988 -1996: Vụ trưởng, trợ lý Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và Bộ trưởng bộ Giáo dục & Đào tạo.

Nghiên cứu về thủy lực: Chống xói ở hạ lưu công trình thủy lợi có nhiều khoang, đường mặt nước trong kênh hở. Về khoa học giáo dục: Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Phương pháp dạy đại học. Đã hướng dẫn thành công 1 luận án Tiến sĩ và 12 luận văn Thạc sĩ. Chủ biên và đồng tác giả 15 cuốn sách. Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

4743. Vũ Văn Vịnh

Quê l. Thần Đầu, nay thuộc x. Thái Tân, h. Thái Thụy. Tham gia VNCMTN từ 1929, được phân công làm tổ trưởng tổ VNCMTN l. Thần Đầu, gồm:  Vũ Văn Vịnh, Nguyễn Xuân Tảo, Vũ Ngọc Rao (người l. Phú Uyên, là bác rể Nguyễn Xuân Tảo). Khi trong tỉnh tiến hành việc thành lập các chi bộ ĐDCSĐ thì Thần Đầu, Thần Huống thành lập riêng một chi bộ Đảng, gọi là chi bộ Thần Huống, do Vũ Văn Vịnh làm Bí thư. Chi bộ Đảng ra đời bắt tay ngay vào các hoạt động tuyên truyền gây ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng. Ngày 1-5-1930 treo cờ, rải truyền đơn ở khắp vùng này, tiêu biểu nhất là việc tổ chức, bảo vệ cuộc diễn thuyết tuyên truyền tôn chỉ mục đích của Đảng vào ngày phiên chợ Tây (Thần Huống), đã gây được tiếng vang lớn cả vùng Nam Thái Ninh. Đặc biệt là cuộc đấu tranh khất thuế và đòi chữa cống 44, kéo dài từ giữa 1930 đến cuối 1931, chi bộ Thần Huống đã vận động nhân dân đấu tranh với Tri phủ Thái Ninh  thắng lợi.

Tháng 1-1932, tại Hội nghị cán bộ họp tại Thần Đầu thành lập Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ lâm thời, Vũ Văn Vịnh được bầu vào Ban Chấp hành. Năm 1932, do Phạm Văn Nam (Tỉnh ủy viên) phản bội, các đồng chí trong Tỉnh ủy: Nguyễn Thế Long (Bí thư), Lương Phôi, Tăng Văn Thiều, Vũ Văn Vịnh đều bị bắt. Vũ Văn Vịnh đã hy sinh trong nhà tù.

4744. Vũ Văn Vụ (s. 1941)

Tin mới ...
Tin cũ hơn ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 1 đánh giá

  • Nguyễn Phúc Nguyên Ngày gửi: 26/11/2014 01:28
    Kính gửi ban biên tập trang web Hội đồng hương Thái Bình. Tôi là Nguyễn Phúc Nguyên, lời đầu thư xin chúc quý ban một sức khỏe tốt. Thưa ban biên tập, trang web của quý hội rất hay, tôi xin hỏi tôi vào trang web tìm mục “"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 4708 - 4990)”, nhưng chỉ đến mục “4744. Vũ Văn Vụ (s. 1941)” là hết (Đường Lin 1 sau), tôi xin hỏi 1. Để xem tiếp từ “mục 4745 – 4990”. Thì phải làm sao ạ? 2. Trước tôi có lưu (Đường Lin 2 sau) nhưng giờ mở không được? Rất cám ơn ban biên tập, x

Album ảnh, Đại Hội VIII - Hội đồng hương Thái Bình CHLB Đức, Berlin 16.05.2016

Thanh niên & Sinh viên Thái bình

Tin hội đồng hương thái bình chlb Đức

Hát xẩm - Hồng Tươi - Hoàng Thị Dư - Xuân Phương - Trà Giang

Tỷ giá - Thời tiết

Tỷ giá

Thông tin thời tiết

   

Back To Top