Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Từ điển Thái Bình » "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 744-1053, D)

Từ điển Thái Bình

"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 744-1053, D)

Ngày đăng: 31/07/2013 In trang

"Ông Nguyễn Quang Ân là nhà sử học, công tác tại Viện Sử học Việt Nam. Từ năm 1998 ông là Giám đốc Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông Ân là tác giả và đồng chủ biên tác phẩm Từ điển Thái Bình và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn sử học khác. Ông đã góp ý kiến và nhiệt tình gửi tới BBT một số tác phẩm đã xuất bản về quê hương Thái Bình để giúp BBT có tài liệu tham khảo, tuyên truyền giới thiệu tới bà con đồng hương xa nhà.
Xin quý bạn đọc lưu ý mấy điểm như sau:
1/ Về nội dung và thứ tự các mục từ hoàn toàn theo bản in ở trong nước.
2/ Về hình thức có sự thay đổi như: thứ tự số trang, phông chữ và tên mục từ không dùng chữ in hoa như bản in.

3/ Do điều kiện kỹ thuật trình bầy trên trang web không thể đưa chữ Hán Nôm và cũng không thể đưa hết các ảnh minh họa ở nhiều mục từ như sách đã in.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Quang Ân đã có tâm huyết và gửi tặng cho dhthaibinh.de bộ sách "Từ điển Thái bình" này và mong rằng bạn đọc của dhthaibinh.de sẽ hiểu hơn nữa về quê hương Thái Bình chúng ta".

Cuốn "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập gồm 4990 mục từ, 1300 trang in khổ 19x27cm do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo biên soạn; Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên; Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2010.

Chúng tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc toàn tập của cuốn từ điển qúy giá này.

***

 

Tiếp theo...

 

D

744. DT 11

Giống lúa thuần, do Viện Di truyền chọn lọc và lai tạo. Thân cây thấp (85 ¸ 90cm, thân cứng; lá hẹp, cứng đứng gọn khóm, lá đòng ngắn, góc lá đông hẹp. Bông to trung bình, hạt dài, xếp đuổi. Trọng lượng 1000 hạt là 29 ¸ 30gr gạo trong, bạc bụng nhiều, cơm cứng. Là giống cảm ôn dài ngày, thời gian sinh trưởng vụ xuân 185 ¸ 195 ngày. Sinh trưởng khoẻ, đẻ nhánh khá. Khả năng chống đổ tốt, chụi rét khá, chịu chua mặn, chịu phèn chịu thiếu lân. Nhiễm sâu bệnh nặng. Đưa vào Thái Bình từ năm 1994 ¸ 1995, cấy nhiều ở Quỳnh Phụ, Thái Thuỵ, Đông Hưng, ở chân đất chua thấp trũng

745. DT 99

Giống đậu tương, do Viện Di truyền Nông nghiệp chọn tạo từ tổ hợp lai IS-011 x Cúc mốc. Thân cây có lông màu trắng, lá màu xanh, hoa trắng, vỏ quả xám, hạt màu vàng, rốn hạt nâu nhạt. Thời gian sinh trưởng 70¸80 ngày. Rất thích hợp với trồng xen và luân canh tăng vụ. Kháng tốt các bệnh gỉ sắt, sương mai, đốm nâu vi khuẩn, hở cổ rễ. Kháng bệnh phấn trắng vào mức trung bình vào giai đoạn quả chác, chịu nóng tốt, chịu lạnh, chịu  hạn, chịu úng trung bình. Năng suất trung bình 14¸23 tạ/ha. Đưa vào trồng ở tất cả các địa phương trên đất Thái Bình.

746. Dành

Làng tên Nôm của l. An Ninh, x. An Ninh, h. Quỳnh Phụ. Tên làng có xuất xứ từ chuyện thị nữ Phương Dung theo Công chúa Huyền Chân vào đất Chiêm, sau khi trở về Đại Việt mở ấp ở l. Dành, nàng cho cải tiến chiếc gùi đeo lưng của người Chiêm thành một loại công cụ dùng để ngâm mống mạ, ủ giá đỗ, nước thoát nhanh, rất tiện lợi. Có thể coi đó là nông cụ sản xuất đặc trưng của l. Dành. Nhiều nơi đến học cách đan, lấy tên l. Dành gọi luôn nông cụ ấy là "cái Dành". Nghề đan dành ở l. An Ninh (l. Dành) nay không còn, chỉ còn tục thờ bà tổ nghề Trần Thị Phương Dung. Những thôn bên cạnh (l. Moi, tức l. Phong Xá, vẫn sống bằng nghề này) cũng lập miếu thờ bà Trần Thị Phương Dung.

747. Dân Chủ

Xã thuộc h. Hưng Hà, cách ttr. Hưng Hà 14km về phía bắc. Thành lập tháng 8-1947 gồm 3 thôn: Đan Hội, Hà Lang, Thượng Bái (Đinh, Trung Ngọc, Bái). Năm 2003, tổ chức lại thành 8 thôn: Bái, Trung, Ngọc, Đinh, Hà Tiến, Hà Thắng, Phú Hội, Đan Hội. Trước cách mạng tháng 8-1945 thuộc tg Thượng Bái, h. Duyên Hà. Diện tích tự nhiên 381,31 ha; dân số 4672 người, gồm 1266 hộ.

Thế đất bằng phẳng, hơi cao, đất màu mỡ. Sản phẩm chính là lúa. Xã có nghề truyền thống đan tre, làm nón. Một số hộ làm nghề kinh doanh dịch vụ. Có đường 223 đi Quỳnh Châu (Quỳnh Phụ), có sông Tà Sa, sông Vang (sông nội đồng) tuy là xã nội đồng xa trung tâm huyện, xa các quốc lộ lớn nhưng do có hệ thống đường tỉnh, đường sông tốt lên việc đi lại thuận tiện. Hiện nay, xã có 7 Tiến sĩ. Có cụm Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh gồm đình Bái, Trung, Đinh. Đặc biệt, là xã duy nhất trong tỉnh có một bản thần tích khắc trên đồng lá. Có 112 liệt sĩ, 69 thương bệnh binh, có 6 người hoạt động cách mạng bị địch bắt tù, đầy, có 1 lão thành cách mạng, 6 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 295 người được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến.

748. Dầu

Cầu trên tỉnh lộ 224 km 2 + 900, vượt một nhánh của sông Yên Lộng, địa phận x. Quỳnh Giao, h. Quỳnh Phụ. Người Pháp xây cầu tạm vào năm 1930-1931, cầu hiện nay xây năm 1984, bằng bê tông cốt thép, dài 5 nhịp 24 m; rộng 4,6 m, tải trọng 8 tấn.

749. Dấu đồng của UBHC xã  trong KCCP

Hiện vật gồm 22 con dấu bằng đồng của UBHC một số xã thuộc h. Phụ Dực (nay thuộc h. Quỳnh Phụ) những năm 1946-1948. Dấu hình chữ nhật dài 4,3 ´ 2,7cm, dày 0,5cm, tất cả đều có cán cầm. Do ông Nguyễn Văn Hiện phát hiện tại th. An Mỹ, x. An Dục, h. Quỳnh Phụ, ở độ sâu 1,5m cùng những hiện vật khác vào ngày 6-2-2001.

750. Dấu đồng và thẻ bài trước 1945

Hiện vật là những dấu đồng và thẻ bài của các chức sắc làng xã Thái Bình trước 1945: Dấu chánh tổng gồm 5 hiện vật (hình elíp có cán, dài 5,3cm, rộng nhất 3,3cm, dày 0,2cm); dấu tiên chỉ gồm 31 hiện vật (hình tròn đường kính 3,7cm có cán); dấu trưởng bạ gồm 25 hiện vật (hình lục giác đều, mỗi cạnh 2,4cm); dấu thủ quỹ gồm 15 hiện vật (hình chữ nhật, dài 4,3cm ´ 2,7cm); thẻ bài của lý trưởng gồm 12 hiện vật (hình chuông, dập nổi chữ, có dây đeo); thẻ bài của phó lý gồm 10 hiện vật (như thẻ bài trên). Do ông Nguyễn Văn Hiện phát hiện ngày 6-2-2001 tại th. An Mỹ, x. An Dục,  h. Quỳnh Phụ, ở độ sâu 1,5m.

751. Dệt vải, lụa

Nghề phụ. Thời thuộc Pháp, toàn Bắc Kỳ có 54.200 thợ dệt thì Thái Bình chiếm 3.100 người, tập trung ở các làng An Tập, An Liêm (Duyên Hà), Xuân Mỹ (Kiến Xương), Thượng Phú, Thượng Tầm, Long Bồi, Văn Ông (Thái Ninh), Tế Quan. Năm 1940, Thái Ninh có tới 4.977 khung cửi. Khi nhà máy sợi Nam Định ra đời, thợ dệt thường mua sợi của nhà máy sợi dệt thành vải khổ (20 - 30 cm), cuộn thành tấm đem bán tại các chợ trong tỉnh. Có câu "Lụa Bộ La, là Sóc, đũi Ngọc Đường". Thái Bình có khoảng 750 thợ dệt các sản phẩm tơ tằm: lụa, sồi, đũi, là, nái, sa... chủ yếu ở các làng Bộ La, Nam Lỗ, Văn Tràng, Phương La, Quận Hành, Phương Trung, Đồng Nhuế, Niềm Hạ.

752. Di Phúc 貽 福

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Hoành Đường, h. Thụy Anh. p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Hoành Sơn, h. Thụy Anh, t. Thái Bình. Nay thuộc x. Thụy Phúc, h. Thái Thụy. Dân số 316 người (1927). Hương ước x. Di Phúc (1942): 96 tr. viết tay.

753. Di Phúc 貽 福

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Vọng Lỗ, h. Phụ Dực, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ. Từ 3 -1895 đổi là x. Giới Phúc. Đầu tk. XX thuộc tg Vọng Lỗ, h. Phụ Dực, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Tân Tiến, h. Phụ Dực. Nay thuộc x. An Lễ, h. Quỳnh Phụ. Dân số 301 người (1927). Thờ Thành hoàng Minh Ruệ.

754. Dị nhân Yết Kiêu

Thần thờ ở l. An Bồi, tg An Bồi, h. Trực Định (nay thuộc x. An Bồi, h. Kiến Xương). Sự tích : Yết Kiêu vốn quê ở x. Hạ Bì (nay là th. Quát, Hạ Bì, thuộc x. Yết Kiêu, h. Gia Lộc, t. Hải Dương), chuyên nghề xúc hến mò trai kiếm sống. Từ ngày nuốt phải chiếc lông trâu húc nhau để rơi trên bãi biển thì lặn hụp dưới nước như đi trên cạn, vậy nên được mệnh danh dị nhân. Đến thời vua Trần Nhân Tông, nhờ góp sức đánh đuổi giặc Nguyên Mông xâm lược, dị nhân Yết Kiêu cùng với Dã Tượng, Câu Mang đều được thưởng các hàm tước Quân công và được tiến phong tôn thờ ở miếu công thần, và cho dân phường chài ở khắp nơi thờ phụng làm. Đến thời nay, còn thấy nhiều ngôi miếu cổ của ngư dân ở các địa phương trong nước, ngoài nơi thờ chính là l. Hạ Bì, x. Yết Kiêu, h. Gia Lộc, quê hương mang tên Đại Vương.

Thái Bình tỉnh thần tích (AE. a5/2,2).

755. Día nấu canh chua

Món ăn thông dụng của người dân vùng biển  h.

Thái Thụy.

- Nguyên liệu: Día, lộc bứa, lá lốt, hành hoa, mắm, muối, ớt.

- Cách làm: Chọn día tươi (mai xanh bóng, chân trắng bóng, cứng), đem rửa sạch, cắt bỏ phần đầu chân có màu đen, sau đó tách riêng chân và thân día. Đun nước sôi, bỏ thân día vào luộc, khi nào nước sôi đều là được. Đổ thân día ra rổ chờ ráo nước rồi nhặt lấy ruột. Đem băm nhỏ ruột lẫn với chân día (Cho chân vào khi đã băm nát ruột cho khỏi bị bắn ra ngoài), cùng hành, răm, lá lốt và một ít lộc bứa, muối, ớt tươi, rồi viên lại thành từng viên bằng quả táo ta. Lộc bứa buộc thành túm nhỏ cho vào nước luộc día, tra mắm, muối vừa đủ, đun lại, khi nước sôi đều, nhẹ nhàng thả từng viên día vào để tránh bị vỡ nát. Khi canh sôi đều chừng 1 đến 2 phút là được. Trước khi bắc xuống, tra thêm hành hoa, răm và lá lốt thái nhỏ. Khi ăn, dằm nát túm lộc bứa, chắt lấy nước, bỏ bã. Canh bứa có vị chua mát, rất thơm, viên bứa ăn vừa ngọt vừa giòn. Canh bứa nấu chua thường dùng để ăn với cơm hoặc bún được nhiều người ưa thích.

756. Diệc

Chùa, tên chữ là "Diên Khánh tự", thuộc th. Mỹ Dực, x. Tân Hòa, h. Hưng Hà. Chùa thờ Phật và là nơi tu hành của Đại sư Lưu Lượng, em ruột Thái úy Lưu Khánh Đàm, ông có công cùng Đại sư Không Lộ và Giác Hải nắn dòng, khai thông sông Đà Lỗ - sông Luộc (đoạn sông Kênh Đào, giữa 2 huyện Hưng Hà và Quỳnh Phụ, cắt trại Vàng về phía Bắc dòng sông). Chùa chung khuôn viên đền Diệc tiền thân có từ đời Lý Nhân Tông, sửa lại "đinh". Chùa ông Hộ rộng 5 gian, xây kiểu chéo đao tầu góc, nóc đắp ngạc long, góc bờ cánh đắp nghê thần, đao đắp rồng, phượng, hiên trước bẩy chạm văn mây lá lật, đóng cánh cửa khay, diềm mái chạy đường dây cánh sen lá đề. Nội thất làm kiểu lòng thuyền tứ trụ, đặt vì kèo chồng đấu hoa sen. Điện Phật 4 gian, cùng phong cách kiến trúc chùa ông Hộ, lắp cửa võng chạm tứ linh, tứ quý, sơn son thếp vàng khá đẹp. Tượng Phật bầy 24 pho, riêng tòa Cửu Long rất đẹp. Hiện còn quả chuông lớn, đúc năm Minh Mệnh thứ 9 (1928). Được xếp hạng DTLS cấp nhà nước.

757. Diệc

Đền thuộc th. Mỹ Dực, x. Tân Hòa, h. Hưng Hà, tọa lạc trên khuôn viên rộng khoảng 4.000 m 2 (chung với đất chùa). Dựng từ đời Lý Thần Tông, đại tu lại vào năm Khải Định thứ 2 (1927), kiểu tầu chéo góc, cánh gà tường gạch, 5 gian chính đóng cánh cửa khay, bẩy chạm long phi, tứ quý. Hậu cung 3 gian, cùng phong cách tòa bái đường. Đồ thờ phong phú, có đủ sàn thờ, sập thờ, ban thờ, đều chạm trổ tinh xảo, đẹp nhất là cỗ kiệu bát cống, cố khám gian (2 tầng cửa võng) và các ngai thờ, long đình, bát bửu… Đền thờ Quốc sư Lưu Lượng.  Được xếp hạng DTLS  cấp nhà nước.

758. Diệc

Đình thuộc th. Diệc, tên chữ là "Mỹ Dực" (lại có bản dịch là "Mỹ Giặc"), x. Tân Hòa, h. Hưng Hà; dựng cạnh chợ Diệc, khởi xây từ đời Lê, đại tu năm Bảo Đại thứ 13 (1938),  là ngôi đình thời Nguyễn to và đẹp nhất tỉnh, gồm 2 tòa, bố cục chữ "đinh". Đại bái 5 gian, xây kiểu tầu đao chéo góc, đại bờ soi chỉ kép, đắp hoa chanh, hồi đắp ngạc long, góc bờ cánh đắp nghê thần, đao đắp rồng chầu phượng mớm. Hiên trước 2 gian hồi xây tường gạch, trổ cửa sổ chữ Thọ tròn, bẩy chạm rồng và tứ quý hóa rồng, hiên đóng cửa khay. Đồ thờ tự chủ yếu đặt ngoài miếu, trong đình chỉ đặt khám, bài vị Đại sư Liêu Điều (anh trai Thái phó Lưu Ba, em trai Thái úy Lưu Khánh Đàm). Được xếp hạng DTLS cấp nhà nước.

759. Diêm Điền 壏 田

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg An Bồi, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Quyết định số 23 ngày 9-3-1895 của Kinh lược Bắc Kỳ, để tránh sự nhầm lẫn do trùng tên gây ra, đổi tên x. Diêm Điền thành x. Thư Điền. Nay thuộc x. Tây Giang, h. Tiền Hải. Dân số 4.568 người (1927). Địa bạ x. Thư Điền: 8 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), ruộng hạng nhất 363 mẫu; ruộng hạng hai 103 mẫu; ruộng hạng ba 164 mẫu. Thần tích x. Thư Điền : 14 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Nguyệt Nương (Tống Hậu Phu Nhân), vợ Tống Nghệ Tông, đắm thuyền ở Cửa Cờn. Tục lệ x. Thư Điền : 16tr., gồm 13 khoản, không ghi ngày lập. Hương ước th. Bắc (1936): 14 tr. viết tay; Hương ước th. Đoài (1936): 16 tr. viết tay; Hương ước th. Đông (1936): 13. tr. viết tay; Hương ước th. Nam (1935): 15 tr. viết tay.

760. Diêm Điền 壏 田

Xã cũ thuộc tg Hổ Đội, h. Thụy Anh.

Xem: Diêm Hộ (xã cũ - 768)

761. Diêm Điền

Thị trấn huyện lỵ h. Thái Thụy. Đơn vị anh hùng LLVTND. Thành lập ngày 25-6-1986 trên cơ sở đất đai và dân cư của th. Diêm Điền, x. Thụy  Hà và một phần các thôn Bao Hàm, Hổ Đội x. Thụy Lương, các xóm Tân Sơn, Vĩnh Trà của th. Quang Lang x. Thụy Hải. Tổ chức thành 9 khu dân cư gọi tên theo số thứ tự từ 1 đến 9. Diện tích tự nhiên 220 ha.  Dân số 9880 nhân khẩu, gồm 2364 hộ.

Một đường phố ttr. Diêm Điền

Thị trấn nằm trên đường 39B, đường tỉnh lộ đi Nam Am, Vĩnh Bảo (Hải Phòng), thuận lợi cho giao lưu kinh tế. Đất đai ít, nhất là đất nông nghiệp. Có cảng Diêm Điền, có xí nghiệp chế biến nông sản… Dân thị trấn sống chủ yếu bằng kinh tế biển, kinh doanh phần lớn là chế biến nông sản tại gia đình, buôn bán nhỏ, có một số nghề thủ công như mây tre, xe đay, cơ khí, vận tải, sửa chữa. Số hộ sống bằng nghề nông có trồng cấy lúa, hoa màu, trồng hoè. Có khu lưu niệm đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Hai Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh là đền Đồng Nương và đền Thuận Nghĩa. Trong KCCP, nhân dân nêu khẩu hiệu "Trai không đi lính cho giặc, gái không lấy chồng ngụy binh", xây dựng lực lượng bám dân bám đất, nuôi dấu cán bộ, đánh hơn 20 trận, diệt 118 tên địch, bắt sống 3 trung đội, thu hơn 100 vũ khí và quân trang. Trong KCCM, 1.647 thanh niên nhập ngũ, tại địa phương đã tổ chức các tổ tuần tra biển, các đơn vị trực chiến, lực lượng vận tải biển, biến ngư trường  thành trận địa, phối hợp đánh 92 trận, rà phá 132 quả bom từ trường, 105 quả bom nổ chậm, dập lửa cứu hàng… Được trao tặng 275 Huân, Huy chương các loại, trong đó có 10 Huân chương cho tập thể. Có 9 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 198 liệt sĩ, 190 thương binh, 96 gia đình được tặng Bằng có công với nước.

762. Diêm Điền

Cảng tại cửa sông Diêm Hộ, ttr. Diêm Điền. Từ Diêm Điền đi cảng Hải Phòng 63 km, đi tiếp đến Cát Bà, Hòn Gai, Trung Quốc và quay xuôi hướng nam có thể đi tới các tỉnh ven biển của cả nước. Cảng Diêm Điền gắn với quốc lộ số 10 đi ra Hải Phòng và đường 39A, qua cầu Triều Dương, đi cảng Quảng Ninh và các tỉnh phía đông bắc. Từ rất xa xưa, Diêm Điền gần như đã trở thành một thương cảng ven biển của Việt Nam. Từ những năm 30 của tk. XX, sản vật nông, ngư nghiệp qua đây như thóc, gạo, thuốc lào, ngô, khoai, muối… có năm đã lên tới 7.000 và 8.000 tấn.

Cảng cá Diêm Điền

Từ cuối những năm 70 (tk. XX), Thái Bình đã xây dựng Diêm Điền thành một cảng cá, có chế biến và làm đông lạnh hải sản xuất khẩu. Hàng năm có trên 300 tấn hải sản xuất khẩu qua cửa Diêm Điền. Tháng 8-1993, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức cho phép Thái Bình được xây dựng Diêm Điền thành một cảng biển. Rõ ràng Diêm Điền là một thương cảng khá tốt và cũng là cửa ngõ thuận lợi cho các nước muốn ra vào Thái Bình bằng đường biển.

763. Diêm Điền

Cầu vượt sông Diêm Điền, thuộc địa phận ttr. Diêm Điền, h. Thái Thụy. Do sông lớn, trước qua sông bằng phà, từ 1985 mới có cầu bằng bê tông cốt thép; dài 11 nhịp 134,76 m; rộng 6m; tải trọng H10 - XB60.

764. Diêm Điền

Chợ còn gọi là chợ Hộ, họp ở ttr. Diêm Điền, h. Thái Thụy (l. Hồ, x. Thụy Hà cũ), rộng hơn 4000m 2 . Chợ xưa nhỏ hơn bây giờ, họp ở trong làng, tháng 6 phiên chính vào buổi sáng các ngày 4, 9 âm lịch. Nay chợ vẫn họp các phiên chính, xép như xưa. Vào ngày chợ phiên khu này náo nhiệt hơn cả khu bán đồ biển, có khoảng hơn chục hàng xáo bán gạo các loại cho người ăn đong hàng ngày. Có hàng bún riêu cua, nấu bằng con cum cúm biển (hoặc cua đồng) với tai chua, ăn với rau thơm, rau muống chẻ nhỏ vừa ngon lại rẻ. Bãi bán chiếu cói, đồ mây tre, lưới vó, hàng sắt, cây cảnh, gia súc gia cầm, sản phẩm biển... Sản phẩm biển còn tươi nguyên. Rẻ và dễ mua nhất là gion, vọp, sò, día, con cum cúm, bò bọ... Sản phẩm biển nhiều, do tàu đánh cá đem về thì lại bán ở cảng cá Tân Sơn vào các buổi chiều cho người buôn đem đi các nơi trong tỉnh hoặc bán ở chợ Gú (Thụy Lương).

765. Diêm Điền

Đồn liên hiệp Pháp, tại khu vực chợ ttr. Diêm Điền, xây dựng vào cuối 2-1950, trên diện tích khoảng 1700m 2 , là một hệ thống công sự trận địa liên hoàn gồm 1 lô cốt 3 tầng (lô cốt mẹ) và 5 lô cốt vệ tinh, tường gạch dày 40 cm có lỗ châu mai kiểm soát hoả lực trên 4 hướng. Lô cốt 3 tầng - tầng trên cùng đặt 1 khẩu đại liên, dưới là hầm ngầm chữa toàn bộ vũ khí và là nơi cố thủ của bọn chỉ huy. Hệ thống giao thông hào chằng chịt nối liền các lô cốt ụ súng, sở chỉ huy, hào sâu 1,6m, rộng 0,8m có đoạn  bên trên gác gỗ, phủ đất kín. Trung tâm đồn là nhà ở của chỉ huy và doanh trại. Đồn được bảo vệ bằng 3 lớp hàng rào dây thép gai- hàng rào đơn cao 1,5m cột bằng bê tông cốt thép, mỗi hàng rào cách nhau 10-15m. Lực lượng tương đương 1 đại đội do tên quan 3 Pháp chỉ huy. Bốt quận có 1 trung đội nguỵ bảo vệ khu hành chính quận. Tháng 6-1952, bộ đội tỉnh cùng bộ đội h. Thụy Anh và dân quân du kích bao vây quấy rối đồn địch đẩy chúng vào thế bị động đối phó. Tháng 12-1953, địch phải rút khỏi đồn Diêm Điền

766. Diêm Điền I

Cống dưới đê, tại km 32 + 950 đê biển số 8, ttr. Diêm Điền, h. Thái Thụy. Xây dựng năm 1962, đại tu những năm 1990, 1994. Chiều rộng 6m, chia làm 3 cửa. Cao trình đáy (-2.00). Chiều dài 10,50m. Bằng bê tông cốt thép, dạng hộp ngầm. Cánh van bằng thép, đóng mở bằng tời điện. Có 2 dàn van phía biển và đồng. Dàn van phía đồng để kéo thả cánh thay cho thả phai như trước đây, để an toàn ngăn nước mặn. Là cống đầu mối tiêu nước ra biển cho các xã phía bắc h. Thái Thụy, diện tích tiêu 6000 ha (bao gồm lưu vực tiêu của cống Diêm Điền 2). Được tu bổ sửa chữa thường xuyên. Đoạn sông hạ lưu cống là nơi trú ẩn của tàu bè đánh cá, tạo vẻ đẹp cho cảnh quan môi trường.

767. Diêm Điền II

Cống dưới đê, tại km 33 + 000 đê biển số 8, ttr. Diêm Điền, h. Thái Thụy. Xây dựng năm 1978. Chiều rộng cửa: 6,00m, 3 cửa. Cao trình đáy
(- 2.50), chiều dài 16,5m. Bằng bê tông, cốt thép, dạng hộp ngầm. Cánh van thép, hai dàn van thượng, hạ lưu: đóng mở bằng tời điện. Chất lượng tốt, được thường xuyên tu bổ, vận hành thuận tiện. Được xây dựng theo quy hoạch hoàn chỉnh hệ thống thủy nông h. Thái Thụy (năm 1972), để tăng năng lực tiêu nước ra biển cho khu bắc h. Thái Thụy (6000ha) vì cửa cống Diêm Điền 1 hẹp.

768. Diêm Hộ 壏 戶

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Hổ Đội, h. Thụy Anh, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ. Đầu tk. XX đổi thành x. Diêm Điền thuộc tg Hổ Đội, h. Thụy Anh, t. Thái Bình. Nay thuộc ttr. Diêm Điền, h. Thái Thụy. Dân số 7.627 người (1927).

769. Diêm Hộ

Sông chi lưu của sông Luộc, nối dòng từ cống Đại Lẫm (x. Quỳnh Thọ, h. Quỳnh Phụ) xuôi qua cầu Vật xuống đò Mom hội với hạ nguồn sông Cô chảy xuống cầu Vô Hối, song song cùng trục đường 39, xuống cống Trà Linh, rồi đổ ra cửa biển Diêm Điền, dài 60 km. Xưa là sông lớn, từ thời Lý đắp đê sông Hoá, sông nhỏ dần: Điểm thượng nguồn chỉ rộng 15m, xuống đò Vô Hối mặt sông rộng gần 100m, đến cửa Diêm Điền thì xấp xỉ 150m. Lưu lượng nước lệ thuộc vào việc mở cống thượng nguồn hoặc theo lượng mưa hàng tháng, hàng quý.

Tuy là sông nội đồng nhưng được nhận nguồn nước từ các sông Đan Hội, Quỳnh Côi, được tiếp nước từ các cống Đại Lẫm, Đào Xá, Đập Hệ nên dòng nước sông Diêm phong phú giăng thành mạng lưới phủ khắp địa phận Quỳnh Côi, Phụ Dực… vùng hạ lưu tiếp dòng sông Lam, sông Trừng Hoài, sông Cầu Sắt dẫn nước từ sông Trà sang đan thành mạng, đủ sức tưới tiêu cho cả vùng Thái Thuỵ. Do xưa chưa có cống Trà Linh, nước pha mặn đổ ra cửa Diêm Điền nên sông có tên gọi là sông Diêm - dù đất nội đồng này xưa nay không có nghề làm muối.

770. Diêm Tỉnh 壏 井

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Quảng Nạp, h. Thụy Anh. p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Quảng Nạp, h. Thụy Anh, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Dũng Tiến, h. Thụy Anh. Nay thuộc x. Thụy Dũng, h. Thái Thụy. Dân số 653 người (1927). Thần sắc x. Diêm Tỉnh : 11 tr., phong cấp vào các năm Bảo Thái (1 đạo), Cảnh Hưng (3 đạo), Chiêu Thống (1 đạo). Phong cho Linh ứng Thông Minh Chính Trực... Hoàng hậu. Thần tích x. Diêm Tỉnh : 8 tr., về sự tích Gia Từ Hoàng Thái hậu, người thời Hán.

771. Diêm Tỉnh

Cống dưới đê, tại km 15 + 116 đê biển số 8, x. Thụy Dũng, h. Thái Thụy. Xây dựng năm 1938. Chiều rộng: 4m, chia làm 2 cửa, cao trình đáy

(-1.50), thân cống dài 15m. Bằng bê tông, cốt thép, dạng hộp. Cánh van thép, đóng mở bằng vít me. Cống tiêu nước lấy phù sa từ sông Hóa cho các x. Thụy Dũng, Thụy Hồng. Đã tu sửa lớn nhiều lần. Chất lượng hiện tại kém.

772. Diêm Trì  鹽 池

Xã cũ cuối tk. XIX thuộc tg Tân An, h. Tiền Hải, p. Kiến Xương, t. Nam Định. Đầu tk. XX thuộc tg Tân An, h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. ái Quốc. Nay thuộc x. Tây Phong, h. Tiền Hải. Dân số 599 người (1927). Hương ước l. Diêm Trì (1936): 7 tr. viết tay. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 4 tr.; thần Hồng Đại Nương.

773. Diệm Dương 艷 陽

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Đường Thâm, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Đồng Xâm, p. Kiến Xương, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Trà Giang. Nay thuộc x. Trà Giang, h. Kiến Xương. Dân số 727 người (1927). Địa bạ x. Diệm Dương: 12 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 106 mẫu 7 sào 2 thước 7 tấc; trong đó công điền 59 mẫu 4 sào 12 thước 5 tấc 2 phân; tư điền 10 mẫu 2 sào 14 thước 6 tấc. Tục lệ x. Diễm Dương : 28 tr., gồm 25 điều, lập ngày 3 tháng 4 năm Tự Đức 24 (1871). Hương ước l. Diệm Dương (1936): 19 tr. viết tay.

774. Diệm Dương

Cống dưới đê, tại km 0 + 750 đê biển số 6, x. Trà Giang, h. Kiến Xương. Xây dựng năm 1946. Kích thước: 1 cửa, tròn đường kính 150cm, chiều dài 9,00m, cao trình đáy (-1.00). Bằng gạch xây, dạng ống buy. Cánh van thép, đóng mở bằng vít me. Chất lượng kém; cống ngắn so với mặt cắt đê, hư hỏng nặng các bộ phận tường cánh, sân thượng hạ lưu. Mùa lũ phải cắm cừ hoành triệt. Cống lấy nước từ sông Trà Lý cho x. Trà Giang, có thể tranh thủ lấy phù sa hoặc tiêu nước khi mực nước ngoài sông Trà Lý thấp vào vụ mùa.

775. Diên Hà 延 河

Huyện cũ, xem: Duyên Hà (huyện cũ - 819)

776. Duyên Hà - Thần Khê

Nay thuộc đất h. Hưng Hà và h. Đông Hưng, là  những vùng đất lẫy lừng với những câu ca như:  "Đã là con mẹ con cha, thì sinh ở đất Diên Hà, Thần Khê", "Hải môn thập  nhị, Hoàng giang khả úy" (Mười hai cửa bể, Hoàng giang đáng sợ), "Mười hai cửa bể cũng nể Tuần Vàng", "Đồng đất Diên Hà bờ cơm ruộng mật"... Địa danh "Hà", "Khê" gợi nhớ một vùng sông rạch, khe ngòi thời xa xưa, nơi sinh thành và tạo dựng nên những nhân tài lỗi lạc như Lê Thánh Tông, Lê Quý Đôn. Bà Ngô Thị Ngọc Giao, khi có mang, được Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ phối hợp với Thái sư Lân Quốc công Đinh Liệt đưa về trú tạm ở chùa Huy Văn (Thăng Long), rồi ngầm đưa đi lánh nạn nơi khác. Trên đường qua vùng Hà, Khê đã sinh ra vua Lê Thánh Tông. Đô Kỳ thuộc Thần Khê (nay là x. Đông Đô, h. Hưng Hà) là vùng đất đế đô kinh kỳ thời "tiềm để" Lê Thánh Tông; cũng là đất cư trú của tổ ngoại vua Lê Thánh Tông, từng phát tích các danh tướng Đinh Lan, Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt là những bậc khai quốc công thần nhà Hậu Lê.

777. Diên Khánh Phật tự bi kí 延 慶 佛 寺 碑 記

Bia Dựng năm Thịnh Đức thứ 1 (1653), ở chùa x. Trung Châu, tg. Lương Xá, h. Phụ Dực (nay là x. An Cầu, h. Quỳnh Phụ). Bia 1 mặt, khổ 0.66m x 0.50m. Gồm 28 dòng, khoảng 300 chữ. Hoa văn chạm rồng, hoa lá. Người soạn: Giám sinh Nguyễn Đôn Phu. Người viết: Đào Nhân Tiên. Nội dung: Ghi việc bà Trần Thị Sính cúng một mẫu ruộng, 45 quan tiền, 1 con lợn cho xã khi tu sửa chùa, được bầu làm "Hậu Thần". Bài minh 20 câu ca tụng công đức. Ghi họ, tên quan viên, hương lão đứng ký bầu. N. 4029.

778. Diên Khánh tự hưng công thạch giai bi ký 延 慶 寺 興 功 石 階 碑 記

Bia dựng năm Cảnh Hưng thứ 11 (1750), ở chùa x. Trung Châu, tg. Lương Xá, h. Phụ Dực (nay là x. An Cầu, h. Quỳnh Phụ). Bia hai mặt, khổ 0.68m x0.47m. Gồm 25 dòng, khoảng 400 chữ. Hoa văn chạm rồng, phượng, mây. Người soạn: Nguyễn Bình, Hồng lô tự tự ban. Nội dung: Ghi họ, tên những người có công đóng góp xây thềm đá chùa Diên Khánh. Bài minh 8 câu, ca tụng công đức. N. 4030/01.

779. Diên Lễ 沿 禮

Xã cũ đầu tk. XX thuộc tg Lễ Thần, p. Thái Ninh, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Bích Sơn, h. Thái Ninh. Nay thuộc x. Thái Đô, h. Thái Thụy. Dân số 314 người (1927). Địa bạ x. Diên Lễ : 8 tr., khai tháng 3 năm Thành Thái 12 (1900), gồm công tư điền thổ 104 mẫu; trong đó công điền 38 mẫu 7 sào; tư điền 32 mẫu 3 sào; đất hạng hai, 7 mẫu; đất hạng ba, 26 mẫu.

780. Diền

Cầu trên tỉnh lộ 223 km 30 + 072, vượt ngòi Duyên Lãng, địa phận x. Minh Hoà, h. Hưng Hà. Người Pháp xây cầu tạm vào năm 1930-1931, cầu hiện nay xây năm 1998-1999 bằng bê tông cốt thép, dài 1 nhịp 4,8 m, rộng 4m, tải trọng  H8.

781. Diễn tập B - 81

Thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân khu 3, Tỉnh ủy Thái Bình và nghị quyết của Đảng ủy quân sự tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự đã tổ chức diễn tập có thực binh mang kí hiệu "B - 81".

Diễn tập quy mô lớn gồm toàn bộ lực lượng vũ trang Thái Bình, một số đơn vị bạn đóng quân trên địa bàn tỉnh và các ngành trong tỉnh tham gia. Với các nội dung: chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, tổ chức và thực hành chiến đấu phòng thủ địa phương; động viên quân dự bị.

Qua diễn tập, công tác sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang cũng như của các địa phương được nâng cao, từng bước bổ sung, hoàn chỉnh phương án tác chiến. Kế hoạch xây dựng tuyến phòng thủ trên địa bàn tỉnh, năng lực tổ chức chỉ huy, công tác tham mưu của cán bộ. Thể hiện sức mạnh của chiến tranh nhân dân địa phương và phương pháp tiến hành, chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới. Diễn tập kết quả tốt, an toàn, đạt mục đích yêu cầu đề ra.

782. Diễn tập bảo vệ mục tiêu ven biển

Cuối tháng 4-1984, thực hiện chỉ thị của Quân khu 3, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, hai huyện Tiền Hải, Thái Thụy đã huy động 3.534 dân quân tự vệ thuộc 20 xã ven biển cùng với tiểu đoàn 53, các đồn biên phòng khu vực, tổ chức diễn tập chống địch tập kích, thám báo thâm nhập và chống vượt biên, bảo vệ các mục tiêu ven biển như Cống Lân, cống Trà Linh…

Qua diễn tập, Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định số 29/QĐ-UB ngày 28-4-1984, giao nhiệm vụ động viên quân đội cho Chủ tịch UBND các huyện thị. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, ủy ban kế hoạch tỉnh ra mệnh lệnh và kế hoạch hướng dẫn các cấp, các ngành, các địa phương tổ chức thực hiện nhiệm vụ động viên quân đội. Diễn tập bảo vệ mục tiêu ven biển kết quả tốt, đạt mục đích yêu cầu đề ra.

783. Diễn tập "Biển đông 979"

Từ ngày 13 đến 19-10-1979, thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân khu 3, nghị quyết của Tỉnh ủy về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; Bộ chỉ huy quân sự thống nhất tỉnh đã quyết định tổ chức diễn tập kiểm tra có thực binh các lực lượng vũ trang địa phương và một số ngành của tỉnh, tại 2 huyện Thái Thụy, Tiền Hải và 2 cụm trọng điểm của h. Kiến Xương (Tán Thuật và Hồng Tiến).

Lực lượng tham gia: Lực lượng vũ trang 2 huyện Tiền Hải, Thái Thụy, các trung đoàn 815, 181, các đơn vị công an vũ trang tỉnh, 2 tiểu đoàn du kích cơ động của Kiến Xương, 1 đại đội cao xạ của thị xã. Cơ quan tham gia: ngành (Bưu điện, Giao thông, y tế, Công an, Lương thực, Thương nghiệp, Thủy lợi, Công nghiệp, Thủy sản, Thông tin Văn hóa của cả cấp tỉnh và cấp huyện). Nội dung diễn tập: Hoàn thành công tác chuẩn bị và tổ chức chiến đấu trên các mặt. Thực hành chiến đấu: Đánh địch đổ bộ đường biển từ xa, đánh địch vào đất liền, phản kích và kết thúc chiến dịch. Kết quả: Diễn tập đạt mục đích yêu cầu đề ra, trình độ lãnh đạo, chỉ đạo chỉ huy thực hành chiến đấu của các cấp, các ngành, khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang và nhân dân được nâng lên một bước

784. Diễn tập phòng thủ khu vực huyện

Tháng 9-1988, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tiến hành chỉ đạo 6 huyện thị: Hưng Hà, Thái Thụy, Thị xã, Vũ Thư, Quỳnh Phụ, Kiến Xương diễn tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, động viên quân dự bị trong khu vực phòng thủ huyện. Chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến và thực hành tác chiến đánh địch tiến công xâm lược.

Qua diễn tập, Chủ tịch, Bí thư, các cơ quan, ban ngành các xã phường, cơ quan, xí nghiệp đã nâng cao nhận thức, năng lực, trình độ, phương pháp chỉ đạo, chỉ huy, công tác xây dựng nền quốc phòng của huyện trong thời bình và thời chiến, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu và trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Đã huy động được lực lượng dự bị động viên, lực lượng dân quân tự vệ  đạt chỉ tiêu cơ bản về số lượng, chất lượng thời gian, chỉ đạo động viên lực lượng, phương tiện chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến nhanh gọn. Tổ chức chống địch tập kích đường không, công tác khắc phục hậu quả và phòng thủ dân sự đạt nội dung cơ bản. Diễn tập phòng thủ khu vực huyện đạt kết quả tốt, thiết thực đáp ứng tình hình khi có chiến tranh xẩy ra.

785. Diễn tập "TB - 89"

Từ ngày 15 đến 17-8-1989, được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ tư lệnh Quân khu 3, cơ quan Bộ Quốc phòng, tỉnh đã  tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ mang ký hiệu "TB - 89", nhằm bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch, phương án phòng thủ, kết hợp với quốc phòng, kế hoạch chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến theo cơ chế mới đáp ứng kịp thời mọi tình huống khi có chiến tranh xẩy ra.

Nội dung diễn tập: Chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu và triển khai kế hoạch động viên quân dự bị. Thực hành chỉ huy chiến đấu chống địch đổ bộ đường biển, vụ hồi đường sông, đổ bộ và tập kích đường không, chống gây rối bạo loạn. Thành phần tham gia: Khối dân chính Đảng có thường trực Văn phòng Tỉnh ủy, cán bộ các ban ngành của Đảng (Tuyên giáo, Tổ chức, Kiểm tra), các đoàn thể (Thanh niên, Phụ nữ văn phòng Huyện ủy các huyện, thị. Khối chính quyền có thường trực UBND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, Ban tổ chức chính quyền. Các ban ngành (Kế hoạch, Bưu điện, Thương nghiệp, Lương thực, Tài chính, công nghiệp, Y tế, Giao thông vận tải, Lao động thương binh xã hội), Văn phòng UBND các huyện. Khối lực lượng vũ trang có Quân sự, Công an, Biên phòng tỉnh, Chỉ huy cơ quan quân sự huyện, thị, trung đoàn 181.  Kết quả: Diễn tập đạt mục đích yêu cầu đề ra theo phương châm "Hiệu quả thiết thực, chất lượng, an toàn, tiết kiệm".

786. Diễn tập "TB 90"

Từ ngày 29 đến 30-5-1990, UBND tỉnh tổ chức diễn tập chuyên ngành Giao thông vận tải - y tế trong khu vực phòng thủ tỉnh mang ký hiệu "TB 90" (diễn tập chỉ huy 2 cấp). Thành phần tham gia gồm: Ngành Giao thông vận tải 33 người; ngành y tế 16 bộ phận, 46 người. Thủ trưởng và cơ quan của 2 ngành, của 3 hệ thống (lãnh đạo, chính quyền, quân sự thuộc ngành) của 2 cấp tỉnh, huyện Vũ Thư và Thị xã. Đơn vị trạm trại, xí nghiệp thuộc sở. Lực lượng thực binh: Động viên 1 tiểu đoàn quân y của tỉnh tại Vũ Thư. Động viên 10 xe ô tô thị xã quản lý. Nội dung diễn tập: Chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chuyển nhiệm vụ của ngành từ hoạt động thời bình sang thời chiến. Tổ chức chuẩn bị, bảo đảm của ngành cho tác chiến phòng thủ khu vực. Thực hành chỉ huy lực lượng của ngành bảo đảm theo nhiệm vụ chiến đấu. Kết quả: Diễn tập đã hoàn thành đúng nội dung, đúng thời gian và thành phần tham gia, đạt mục đích yêu cầu đề ra.

787. Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ

Thần thờ ở x. Lưu Phương, tg Tân An, h. Tiền Hải (nay thuộc x. Tây Phong, h. Tiền Hải). Sự tích: Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ là người đã chiêu mộ nhân dân khai khẩn đất hoang lập ra h. Tiền Hải (Thái Bình) và h. Kim Sơn (Ninh Bình). Dân hai huyện cảm phục công đức của ông lập đền thờ sống ông. Trong đền có đôi câu đối ca ngợi đức độ của quan Dinh điền, và khéo lồng được cả tên địa phương vào đó: Lập ra bốn mươi bảy thôn, dân yên nghiệp mới. Luôn nhớ nào chỉ một trại, lưu mãi tiếng thơm.

Thái Bình tỉnh thần tích (Q4 0 -18/VIII,49).

788. Do Đạo 由 道

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Đặng Xá, h. Hưng Nhân, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Đặng Xá, h. Hưng Nhân, t. Thái Bình.Trong KCCP thuộc x. Tân Thịnh, h. Hưng Nhân. Nay thuộc x. Tiến Đức, h. Hưng Hà. Dân số 600 người (1927). Tục lệ x . Do Đạo: 8 tr., gồm 12 điều, lập ngày 10 tháng 9 năm Thành Thái 18 (1906).

789. Doãn Chi (1840 - 1874)

Còn có tên là Doãn Đế, tự Bảo Căn, là con trưởng của Doãn Khuê, người l. Ngoại Lãng, nay thuộc x. Song Lãng, h. Vũ Thư. Năm Tân Dậu (1861) thi Hương đỗ Tú tài, 3 năm sau, Tự Đức thứ 17 (1864) đỗ Cử nhân khoa Giáp Tý lúc tròn 24 tuổi. Doãn Chi sớm bước vào cuộc đời chống giặc, an dân, theo cha lên quân thứ ở Khuê Sơn. Cùng cha và lực lượng chiêu mộ chiến đấu giành lại được các phủ Lâm Thao, Quảng Oai, Hạ Hòa và sau được cử đi tiễu phỉ ở Lạng Sơn.

Năm 1868 được bổ Hàn Lâm viện Tu Soạn, năm sau được bổ Tri phủ Sơn Tây, rồi sung Tri phủ Chân Định (h. Kiến Xương - Thái Bình ngày nay). Năm 1873, chiến đấu bảo vệ vùng tả ngạn sông Hồng (từ ngã ba sông Trà Lý tới cửa Ba Lạt). Đem lính mộ theo quân thứ ở Hải Dương, từng lập chiến công, được phong Tán tương quân vụ rồi Hàn lâm viện Thị giảng, sung Tri phủ Nam Sách - Hải Dương. Hy sinh trong cuộc chiến đấu ở Thiện Nghĩa - Hải Dương ngày 3 tháng 9 năm Giáp Tuất (1874). Được truy tặng hàm Thị độc năm Tự Đức thứ 32 (1879), được đưa vào thờ ở đền Trung Nghĩa (Huế). Tên ông được ghi vào điển tịch (Đại Nam liệt truyện ). Tác phẩm có Bảo Căn thi tập gồm 55 bài thơ.

Ông được thờ làm thần hoàng làng ở l. Phú Mỹ (nay thuộc x. Bình Minh, h. Kiến Xương - Thái Bình ). Đền - chùa thờ ông ở l. Phú Mỹ hiện còn sắc phong, được công nhận là DTLS cấp tỉnh  (1998)

790. Doãn Đông 允 東

Xã cũ đầu tk. XX thuộc tg Đông Thành, h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Đông Hưng, h. Tiền Hải. Nay thuộc x. Nam Hưng, h. Tiền Hải. Dân số 257 người (1927). Hương ước x. Doãn Đông (1942): 9 tr. viết tay. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 24 tr., 20 tr. chữ Hán; 10 đạo sắc phong.

791. Doãn Hoàng Giang (s. 1938)

Nghệ sĩ Nhân dân (1997), quê l. Ngoại Lãng, nay thuộc x. Song Lãng, h. Vũ Thư. Buổi đầu được đào tạo thành diễn viên kịch nói, ra trường được chuyển về nhà hát Kịch trung ương. Ông là một diễn viên có cá tính. Kể từ 1972, dàn dựng vở diễn đầu tiên đến nay, Doãng Hoàng Giang không chỉ là một đạo diễn mà còn là một tác giả kịch bản với gần 100 vở, dàn dựng hơn 300 vở cho tất cả các đoàn nghệ thuật trong nước, bao gồm nhiều loại hình, từ kịch nói đến kịch hát. Là người yêu nghề, tài hoa Doãng Hoàng Giang không ngừng tìm tòi, sáng tạo trong lao động nghệ thuật, luôn luôn cố gắng đem đến cho khán giả những điều tốt đẹp nhất, được thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, hấp dẫn nhất. Không chỉ thành công trên sân khấu kịch nói, Doãn Hoàng Giang còn có đóng góp cho sân khấu kịch hát.

792. Doãn Khuê (1813 - 1878)

Tự Bảo Quang, quê l. Ngoại Lãng, nay thuộc x. Song Lãng, h. Vũ Thư. Thủa nhỏ nhà nghèo, phải sang ở nhà bác họ ở l. Vô Ngại để vừa giúp việc vừa học. Thông minh, học giỏi, được thầy giáo quý mến và đặt nhiều hy vọng. Khoa Đinh Dậu (1837) đỗ Cử nhân và một năm sau, khoa Mậu Tuất (1838) , đời Minh Mạng, đỗ Tiến sĩ , mới 25 tuổi. Từng qua các chức Hàn lâm viện biên tu, Tri phủ ứng Hòa (nay thuộc tp. Hà Nội). Năm Tân Sửu, Thiệu Trị năm thứ nhất (1841), được bổ Giám sát ngự sử. Lên công cán ở Lạng Sơn, Cao Bằng, thấy nhiều cảnh bất bình ông đã viết sớ tấu về triều nhưng đều không có phúc đáp. Năm Đinh Mùi (1847), nhân được triệu về kinh, ông cáo bệnh về quê.

Tự Đức năm thứ 14 (1861), ông lại được triệu về triều, bổ làm Nội các Thừa chỉ, lĩnh chức Đốc học Nam Định, sau lại làm Đốc học Sơn Tây. Bấy giờ, ở Bắc Sơn Tây có phỉ, ông đã đem con em và quân nghĩa dũng dẹp phỉ, con và cháu ông hy sinh, bản thân cũng bị thương, ông xin nghỉ để chữa trị. Tự Đức năm thứ 16 (1863), lại điều ông ra làm Đốc học Nam Định, lại xét công lao của ông ở quân thứ Sơn Tây, ban chức Quang Lộc tự khanh. Tự Đức năm thứ 19 (1866), triệu ông vào kinh, được vua úy lạo, ban cho thẻ kim bài có chữ " hiếu nghĩa ", lại cho tự trình bày nguyện vọng. Doãn Khuê xin về ban học chức, vua căn dặn: " người nên hun đúc dạy bảo nhân tài để cung phụng cho quốc gia ". Tự Đức năm thứ 20 (1867), cử ông làm thương biện, tuần phòng ven biển, rồi lại sai làm Doanh điền sứ. Ông đã chiêu tụ dân lưu tán ở 2 huyện Tiền Hải, Đại An (nay là h. Nghĩa Hưng, Nam Định) để khẩn hoang. Tự Đức năm thứ 26 (1873), có liên đới trong việc để mất thành Nam Định nhưng không bị tội. Tự Đức năm thứ 29 (1876), được sung làm Thương biện, phục chức Thị Giảng, cả hàm tước Quang Lộc tự khanh. Cuối đời, ông xin về dạy học và mất tại quê nhà

Doãn Khuê còn là tác giả trong dòng văn thơ yêu nước cuối tk. XIX với các tác phẩm Bảo Quang thi tập ; Thọ Quang thi văn tập ; Hạ Thọ văn và 1 tập ca trù cùng nhiều câu đối, văn bia, bài châm.

793. Doãn Khuê

Nhà thờ tại  x. Song Lãng, h.Vũ Thư. Nguyên xưa là ngôi nhà gỗ 3 gian làm kiểu lòng thuyền, vì kèo thượng quang đèn, hạ kẻ. Năm 2002, con cháu chi họ Doãn Khuê hạ giải, xây theo kiểu mới, vẫn gồm 3 gian, trong xây cuốn vòm, lòng rộng 0,4m, ngoài xây hồi văn cánh bảng, lợp ngói mũi, xê nô xây trụ thấp, trang trí hoa lá, chính giữa xây cuốn thư, đỉnh đắp rồng chầu, nền giả gấm toán tử. Bảo vật quý là 2 đạo sắc phong công vụ của vua Tự Đức cùng 2 bức trướng, 1 bức sơn son thếp vàng do Hoàng giáp Phạm Văn Nghị và các học trò mừng Doãn Khuê năm 60 tuổi và 1 bức khảm trai do án sát Nguyễn Mậu Kiến mừng thọ ông, đều ghi năm 1872. Trong nhà thờ còn một bài châm do chính Doãn Khuê viết để răn học trò khi cầm quân ra trận, ghi năm tự Đức 22 (1869).

794. Doãn Khuê

Đường phố, được đặt tên theo Quyết định của UBND tỉnh ngày 9-9-2003, dài 1,65km, nền đường 15m, mặt đường 7,0m, chạy theo hướng đông bắc - tây nam, qua ph. Phúc Khánh, x. Vũ Phúc. Điểm đầu giáp cầu Phúc Khánh, điểm cuối giáp x. Song An (h. Vũ Thư). Mặt đường rải đá láng nhựa, chưa có vỉa hè. Mặt đường phía bắc có trường THCS Phúc Khánh. Khu dân cư đô thị mới.

795. Doãn Tần (s. 1947)

Nghệ sĩ Nhân dân. Tên thật là Phan Doãn Tần, quê x. Hồng Lý, h. Vũ Thư. Bắt đầu tham gia phong trào văn nghệ quần chúng khi làm thợ khoan tại Liên đoàn Mỏ-Địa chất 9 ở t. Quảng Ninh (1965-1969), sau đó được tuyển vào học thanh nhạc tại trường Âm nhạc Việt Nam và ngay từ năm học đầu tiên đã được Đài Tiếng nói Việt Nam thu bài hát Việt Nam trên đường chúng ta đi . Tốt nghiệp bậc đại học, được nhận về đoàn Ca múa Tổng cục chính trị.

Doãn Tần, vợ và con gái Hồng Vy

Sau gần 40 năm phục vụ trong quân đội, tên tuổi của Doãn Tần gắn liền với những ca khúc cách mạng như Đường chúng ta đi , Chim yến bay , Dáng đứng Việt Nam , Anh lính tình nguyện và điệu múa ápsara , Những ánh sao đêm. .. đã trở nên quen thuộc với đồng bào, chiến sĩ cả nước, đặc biệt là với bộ đội ở chiến trường trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vợ, em trai, con gái (đoạt giải Sao Mai 2001) và con rể ông đều hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc.

796. Doãn thị gia phả 尹 氏 家 譜

Sách do Doãn Thự 尹 署 , Doãn Uẩn 尹 蘊  biên soạn. Doãn Uẩn viết tựa năm Thiệu Trị thứ 3 (1843). Doãn Nguyên 尹 元  sao lục. 1 bản viết, 198 tr. Khổ 30 x 20 cm, 1 tựa, 1 phàm lệ. Kí hiệu: Viện NCHN A.784

Gia phả họ Doãn ở l. An Duyên, p. Thường Tín (nay thuộc tp. Hà Nội); họ này trước ở l. Đoan Xá, h. Đông Sơn, t. Thanh Hóa, sau dời đến An Duyên. Nội dung: Hệ thống các đời; tiểu sử của các danh nhân trong họ; những người thi đỗ, làm quan, phần mộ, ngày giỗ tổ tiên. Họ có một chi ở l. Ngoại Lãng, h. Yên Dũng, t. Bắc Giang  và một chi ở l. Ngoại Lãng, h. Thư Trì. Trong họ có nhiều người hiển đạt như Doãn Hoành Tuấn, Doãn Mậu Khôi, Doãn Đàm, Doãn Khuê đều đỗ đạt. Bảng liệt kê thế thứ cả họ và gia phả các chi.

797. Doãn Thượng 允 東

Xã cũ đầu tk. XX thuộc tg Đông Thành, h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Xã này được thành lập theo Quyết định số 22 ngày 1-6-1897 của Kinh lược Bắc Kỳ. Trong KCCP thuộc x. Tân Cơ, h. Tiền Hải. Nay thuộc x. Nam Hưng, h. Tiền Hải. Dân số 2097 người (1927). Hương ước x. Doãn Thượng (1936): 4 tr. viết tay, 1 phụ bản. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 5 tr., 4 tr. chữ Hán; 2 đạo sắc phong; thần: Đương Cảnh Thành hoàng.

798. Doãn tướng công hoạn tích 尹 相 公 宦 跡

Sách [Tuy tĩnh tử tạp ngôn 綏 靜子雜言] Doãn Uẩn 尹 蘊 soạn và viết lời dẫn năm Thiệu Trị thứ  2 (1842). 2 bản viết, 1 tiểu dẫn. Kí hiệu: Viện NCHN  A.192: 243 tr., 32 x 22 cm; A.2177: 316 tr., 28 x 17 cm.

1. Về thơ có thơ vịnh cảnh, thuật hoài: Vịnh cảnh vườn nhà; 10 cảnh ở vườn Thượng Mậu; Tùng;  Sen; 10 bài vịnh cúc; Đường núi; Đêm xuân; Chơi xuân; Đóng quân ở Bắc Cạn; Na Miêu; Uống rượu cúc; Tiếc hoa; Vịnh sử; Nhớ anh em ở Kinh; Đêm thu xa nhà. Thơ mừng tặng: gửi ông Hội Nguyên họ Hà ở Cát Động;  Gửi Bùi Bình Trực, Bùi Bình Thực (con Bùi Huy Bích); Mừng Phan Xuân Khanh thọ 60 tuổi; Mừng tân Tiến sĩ Bùi Văn Phiên; Mừng ông họ Đỗ ở Hoàng Mai hưởng thọ; Mừng Đỗ Phát vinh quy. Thơ họa đáp: 14 bài vịnh cảnh vườn Cơ Hạ; Họa thơ Thiệu Trị…

2. Về văn, có bài kí về đất Trấn Tây: Lịch sử, địa lý của Cao Miên và quan hệ của nước này với triều đình nhà Nguyễn; Văn bia đền tiên hiền h. Thư Trì; Biểu tạ ơn chúc thọ và điều trần công việc; Bài "thuyết" nói về cúc; Phú về vườn cúc; Ngắm sông; Văn tế; Văn cáo thần sông, tổ tông, hoặc làm vào các dịp cải táng, tang lễ. Lộ bố văn làm trong dịp đóng quân ở Trấn Tây, báo tin thắng trận về triều đình.  Thơ, văn Doãn Uẩn có nhiều chú thích liên quan đến các sự kiện lịch sử đương thời.

799. Doãn Uẩn (1795 -1849)

Danh tướng, thủa nhỏ có tên Doãn Ôn, sau được vua Minh Mệnh đổi là Doãn Uẩn, sinh tại x. Khê Kiều, nay là th. Khê Kiều, x. Minh Khai, h. Vũ Thư. 29 tuổi, về sống ở Ngoại Lãng, Cử nhân khoa Mậu Tý (1828), Minh Mệnh năm thứ 9. Cuối năm Kỷ Sửu (1829), giữ chức Điển Bạ ở Hàn lâm viện, năm sau được phong Lang trung Bộ Hộ. Năm Giáp Ngọ (1834) làm án sát Thái Nguyên, sau được điều về làm Hữu Thị lang Bộ Hình. Năm Bính Dậu (1836) lại được cử làm

Tin mới ...
Tin cũ hơn ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 0 đánh giá

 

 

Tin được quan tâm

Back To Top