Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Từ điển Thái Bình » "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục1054-1418, D - H )

Từ điển Thái Bình

"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục1054-1418, D - H )

Ngày đăng: 31/07/2013 In trang

"Ông Nguyễn Quang Ân là nhà sử học, công tác tại Viện Sử học Việt Nam. Từ năm 1998 ông là Giám đốc Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông Ân là tác giả và đồng chủ biên tác phẩm Từ điển Thái Bình và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn sử học khác. Ông đã góp ý kiến và nhiệt tình gửi tới BBT một số tác phẩm đã xuất bản về quê hương Thái Bình để giúp BBT có tài liệu tham khảo, tuyên truyền giới thiệu tới bà con đồng hương xa nhà.
Xin quý bạn đọc lưu ý mấy điểm như sau:
1/ Về nội dung và thứ tự các mục từ hoàn toàn theo bản in ở trong nước.
2/ Về hình thức có sự thay đổi như: thứ tự số trang, phông chữ và tên mục từ không dùng chữ in hoa như bản in.

3/ Do điều kiện kỹ thuật trình bầy trên trang web không thể đưa chữ Hán Nôm và cũng không thể đưa hết các ảnh minh họa ở nhiều mục từ như sách đã in.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Quang Ân đã có tâm huyết và gửi tặng cho dhthaibinh.de bộ sách "Từ điển Thái bình" này và mong rằng bạn đọc của dhthaibinh.de sẽ hiểu hơn nữa về quê hương Thái Bình chúng ta".

Cuốn "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập gồm 4990 mục từ, 1300 trang in khổ 19x27cm do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo biên soạn; Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên; Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2010.

Chúng tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc toàn tập của cuốn từ điển qúy giá này.

***

 

Tiếp theo...


1054. Đinh La Quý (852 - 936)

Người l. An Chân, nay là th. Đồng Trực, x. Quỳnh Hoàng, h. Quỳnh Phụ. Theo sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Vũ Mạnh Thát (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001): "Thuở nhỏ La Quý đã du phương học thiền khắp nơi nhưng không gặp duyên đạo, sắp thối chí thì gặp Thông Thiện tu ở chùa Thiên Chúng, La Quý khai ngộ thờ Thông Thiện làm thày. Khi Thiện sắp tịch gọi sư đến dạy: "Xưa thầy ta là Định Không thường dặn ta rằng: người giữ pháp ta, gặp người họ Đinh thì truyền, con đúng là người đó, ta đi vậy". Khi đã đắc pháp, sư tùy phương diễn hóa, chọn đất dựng chùa, mỗi khi nói ra lời nào, tất là phù sấm".

Định Không (752-804) là người "rất sành về thế số, giỏi về các khoa nghiên cứu lịch âm dương ngũ hành và phong thủy". Đinh La Quý đã tiếp thu, hoàn thiện và phổ biến tư tưởng của Định Không, khẳng định nước Việt ta có những vùng "địa linh" có khí tượng đế vương có thể sinh ra những bậc anh hùng xuất chúng, làm chủ đất nước sánh vai cùng những người làm chủ đất nước Trung Hoa. La Quý không chỉ nêu ra thuyết địa linh mà còn phản đối mạnh mẽ chính sách "yểm trừ  những thế đất thiên tử" của Cao Biền, tự mình hoặc bảo người đi lấp lại những chỗ đất mà Cao Biền đã đào bới. Đánh giá về công lao của Định Không và Đinh La Quý, sách Lịch sử phật giáo Việt Nam viết: "Khơi dậy và giáo dục ý thức độc lập cho toàn dân là một trong những thành công rực rỡ của nền giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Nam mà người đi đầu là Định Không và Đinh La Quý". Sách viết tiếp: "Tư tưởng địa linh do Định Không đề ra, La Quý hoàn thiện và phổ biến đã cung cấp một nền tảng lý luận vào thời điểm ấy. Đây là một đóng góp to lớn của La Quý với lịch sử dân tộc và Phật giáo" (Sđd trang 380).

1055. Đinh Lan (tk.  XIV - XV)

Công thần, là con ông Đinh Thỉnh và bà Phạm Thị Gái, sinh tại x. Đô Kỳ, h. Thần Khê. Là một trong 18 người dự hội thề Lũng Nhai (1416), là văn thần trong bộ tham mưu kề cận Bình Định vương Lê Lợi, được phong chức Câu Kiềm vệ tướng quân. Ngày 3 tháng 2 năm Thuận Thiên thứ 2 (1429), được phong á hầu, một trong 93 công thần khai quốc.

Tháng giêng năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), nhân vua xuống lệnh cho con em các nhà đầu mục và các tướng hiệu trở về nhận ruộng đất ở quê cha, đất tổ để chấm dứt nạn tranh chiếm ruộng đất, Đinh Lan nghĩ đến tình thân mẫu, cho cháu là Vạn Thắng hầu Đinh Công Đột về nhận một phần đất ở Đô Kỳ - Duyên Hà - Thần Khê để hương hỏa cụ nội và ngoại tổ.

Thái Tông lên ngôi (1434 - 1442), vẫn để ông giữ chức Thẩm hình viện. Ngày 11 tháng 12  năm Thiệu Bình thứ 2 (1435), Minh Cảnh đế lên ngôi, ông được cử đi sứ sang nước Minh mừng tân Hoàng đế và thân mẫu Minh Cảnh đế vào ngôi Thái hậu.

Tháng 2 năm Đinh Tỵ (1437), Đinh Lan được cử ra ngoài làm An phủ Phó sứ lộ Bắc Giang, rồi 4 tháng sau lại chuyển làm Bắc Giang hạ vệ đồng tổng quản. Ngày  29 tháng 9 năm Đinh Mão (1447), lại sai làm Phó sứ sang nộp cống hàng năm và tâu việc địa phương Khâm Châu.

Thời Lê Nhân Tông, Đinh Lan được điều trả về binh nghiệp, vào Tân Bình, Thuận Hoá làm Thiếu uý. Lê Thánh Tông lên ngôi, Đinh Lan được triệu về Kinh giữ chức Bồi tụng và ngay ngày 1tháng 9 năm Quang Thuận thứ nhất (1460), bồi thần Đinh Lan tuổi ngoài 80 lại được cử làm Chánh sứ đi Yên Kinh thông báo việc Lê Nhân Tông bị Nghi Dân hại, ca ngợi Thánh Tông "Thần văn thánh vũ" để vua Minh công nhận (phong) Lê Thánh Tông là An Nam quốc vương.

Sử chép: Đinh Lan có sức khoẻ. Năm 1417 đã cùng 3 con làm tướng. Công nghiệp không bằng các con Đinh Lễ, Đinh Liệt nhưng đức trung trinh, tinh thần "tận tâm, tận lực trong chức phận thì không ai bằng" và đại thần khai quốc ít ai như ông được cả Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông tin dùng.

1056. Đinh Phúc Diên (tk.  XVII)

Danh thần trung hưng nhà Lê, là con trai Thúy quận công Đinh Thừa Cận, quê ở l. Y Đún, tg Y Đún, h. Thần Khê (nay là Ngoại Thôn, x. Chi Lăng, h. Hưng Hà). Buổi đầu được chọn vào trường Quốc tử giám. Không dự thi Hội, chuyển sang ngạch võ. Nhân sự biến Trịnh Xuân mưu sát Trịnh Tráng, Mạc Kính Khoan từ Cao Bằng về đánh Gia Lâm (Hà Nội), ông đem ấn Đông quân tả Đô đốc chốt ở Cẩm Giàng (Hải Dương) hội với tiên phong Đặng Thế Tài, hậu quân Nguyễn Danh Thế vây đánh Gia Lâm. Mạc Kính Khoan thua (phải) chạy về Cao Bằng… Năm 1644, Trịnh Sầm trấn thủ Hải Dương, làm phản, Đông quân tả Đô đốc hội quân cùng Thái uý Trịnh Tráng vây đánh Hải Dương. Sầm chạy đi Ninh Giang, ông truy đuổi theo, bắt được…. Từ đấy ông đứng đầu hàng tướng, giúp vua Chân Tông giữ vùng Hải Đông, sau được vinh phong "Tán trị công thần". Đô vương Trịnh Tráng phong cho Thẻ bài bằng vàng,  với lời tâm huyết của An Đô Vương "Ban thẻ để làm di tích truyền đời, phú quý hoạn nạn cùng chia sẻ mãi mãi". Khi mất, được phong làm Phúc thần Ngoại Thôn. Đời sau suy tôn là Trung Hưng Tôn thần.

1057. Đinh Phúc Vận (tk. XVI)

Danh thần thời Lê Trung Hưng, là cháu bốn đời

đại thần  Đinh Liệt, quê x. Y Đún (nay thuộc x. Chi Lăng, h. Hưng Hà), theo Trịnh Tùng trung hưng nhà Lê, lo trấn giữ vùng biên giới phía nam, trải phò hai vua Anh Tông và Thế Tông… sau cùng ra Bắc đánh nhà Mạc, thu phục Kinh sư, được vua Lê Thế Tông thưởng kim bài (thẻ vàng), phong: Minh Nghĩa tán trị kiệt tiết công thần. Văn giai giữ chức Thái tể, võ giai, tước Nam quận công. Cả hai ngạch văn, võ đều xếp hạng nhất phẩm. Khi cùng Trịnh Tùng trung hưng nhà Lê, ông có đóng quân trên vùng đất Thái Bình (x. Hoành Mỹ, h. Duyên Hà). Khi ông mất, được chôn cất tại lăng công thần họ Đinh ở Đún Ngoại (x. Bình Lăng, h. Hưng Hà).

1058. Đinh Quang Nghị (s. 1929)

Anh hùng lao động, quê l. Đông Nhuế, x. Vũ Thắng, h. Kiến Xương. Khi được tuyên dương Anh hùng (29-8-1995) là Chủ nhiệm Hợp tác xã Vũ Thắng, đơn vị tiêu biểu dẫn đầu phong trào hợp tác hoá nông nghiệp của tỉnh. Ông đã cùng tập thể lãnh đạo tích cực cải tạo đồng ruộng bằng việc xây dựng các công trình thủy lợi tổng hợp, vừa làm nhiệm vụ tưới tiêu, vừa xổ phèn; làm bờ vùng bờ thửa, chia diện tích canh tác thành từng vùng để thuận tiện cho việc gieo trồng, bảo vệ và tưới tiêu khi cần thiết; áp dụng quy trình sản xuất tốt, đưa nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất; những giống mới có năng suất cao, kháng bệnh; dùng kết hợp phân chuồng, phân xanh, phân hoá học; thực hiện thâm canh tăng vụ; tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật; góp phần ổn định hợp tác xã, đời sống của xã viên được cải thiện rõ rệt.

1559. Đinh Thế Biểu (tk. XV)

Danh thần đời Lê Thánh Tông, huý là Thuận (có sách ghi tên họ ông là Đinh Nhân Thuận); là thế hệ thứ 5 họ Đinh ở Đô Kỳ, h. Thần Khê, p. Tiên Hưng (nay là th. Đô Kỳ, x. Đông Đô, h. Hưng Hà). Ông làm quan dưới triều vua Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông, từng giữ chức Đô hiệu điểm ty, Tả hiệu điểm. Vua Lê Thánh Tông cho ông về trông nom Phúc Dụ Điện ở x. Đô Kỳ để cúng giỗ họ Đinh, tổ ngoại Ngô Thị Ngọc Giao. Khi ông mất được chôn cất tại x. Y Đún, h. Thần Khê - nay là Đún Ngoại, x. Bình Lăng, h. Hưng Hà. Ngày giỗ: 24 tháng 11 hàng năm.

1060. Đinh Thị Ngọc Kế (tk. XV)

Là con Đinh Lễ, khai quốc công thần triều Lê sơ. Đinh Lễ hy sinh, bà được Đinh Liệt nhận làm con nuôi. Đinh Thị Ngọc Kế lấy Thái uý Ngô Từ, sinh ra Ngô Thị Ngọc Giao. Đinh Thị Ngọc Kế được phong tước Càn Bà vương. Bà về ở x. An Lão, h. Thư Trì, p. Kiến Xương, vì An Lão nguyên là đất lộc điền của Trần Thị Ngọc Hy, kế mẫu của bà và khi ấy Ngô Từ cũng vào Kinh. Tại An Lão, bà đã nuôi dạy Ngô Thị Xuân, Ngô Thị Ngọc Giao hiển đạt, sau cả hai đều được tiến cung. ở An Lão, Quốc Thái bỏ tiền ra giúp dân bắc cầu, xây đền, làm đường, sống với dân xã như ruột thịt. Khi Quốc Thái mất, vua lấy đất Mão Diệc, th. Kiều Thần cùng x. An Lão xây lăng mộ, lại sửa sang cung sở Quốc Thái làm đền thờ. Sau, lại cho xây Đốc Hổ điện để thờ Quốc Thánh Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao và ngoại tổ Càn Bà vương Đinh Thị Ngọc Kế. Đương thời, Lê Thánh Tông, rồi Lê Hiến Tông đã từng về thăm Đốc Hổ điện, vua còn cho cả công chúa Bảo Thanh - công chúa thứ 7, đi lại trông nom Đốc Hổ điện (ở An Lão) và Phúc Dục điện (ở Đô Kỳ).

1061. Đinh Thỉnh (cuối t k. XIV đầu tk. XV)

Thủy tổ của các công thần khai quốc triều Lê, gốc quê h. Nông Cống, Thanh Hoá. ý định phù Trần diệt Hồ không thành, Đinh Thỉnh phải tìm đến l. Đô Kỳ, h. Thần Khê, làm nghề dạy học; sau lấy bà Phạm Thị Gái sinh ra Đinh Tôn Nhân (tức Đinh Lan). Giặc Minh xâm lược ông lại cùng Đinh Lan tìm về quê cũ. Đinh Thỉnh tham gia khởi nghĩa chống giặc Minh của Trần Quý Khoáng, được phong chức Thái uý. Trần Quý Khoáng thất bại (1414), Đinh Thỉnh lại cùng con trai vào Lam Sơn. Đinh Lan và các cháu Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt đều có mặt trong hội thề Lũng Nhai (1416) và trong ngày đầu tế cờ khởi nghĩa (1418). Đánh thắng giặc Minh, Đinh Thỉnh được truy phong Mục Huệ Đại Vương. Đinh Liệt lại cho con cháu trở lại Đô Kỳ chăm nom mộ tổ ngoại. Sau thành chi họ Đinh ở các x.Đông Đô, Chi Lăng, Lô Giang, Minh Tân.

1062. Đinh Tiên Hoàng

Phố, tên cũ là đường Bắc sông 3 - 2. Từ 9-9-2003 đổi tên là đường Đinh Tiên Hoàng. Dài 1,6 km, nền đường 26m, mặt đường 16m, chạy theo hướng đông bắc-tây nam, qua địa phận các phường Kỳ Bá, Trần Lãm. Điểm đầu giáp phố Lý Thường Kiệt, điểm cuối giáp phố Lý Bôn.

Xem: Đinh Bộ Lĩnh.

1063. Đinh Trinh (tk. XVI)

Người x. Vị Khê, nay là th. Vị Thủy, x. Thái Dương, h. Thái Thụy. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, được Thám hoa Quách Đình Bảo yêu mến cho theo vừa giúp việc thày vừa học. Khoa Nhâm Tuất, Cảnh Thống thứ 5 (1502), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ. Từ Hàn lâm kiểm thảo, thăng dần đến Thượng thư Bộ Lễ, Bộ Hộ. Được cử sang sứ nhà Minh tâu bày về việc Hiến Tông mất, Túc Tông nối ngôi (1506); ông được vua Minh và các nhân sĩ Trung Quốc khen là người tài. Khi làm Thượng thư Bộ Lễ, ông đã tâu trình về việc xét duyệt các vị thần được thờ ở các làng. Cuối đời, về trí sĩ và mất tại quê nhà. Được lập đền thờ.

1064. Đinh Trọng Lịch (1959-1980)

Anh hùng LLVTND, truy tặng ngày 14-8-1980, quê l. Phú La, x. Đô Lương, h. Đông Hưng. Đảng viên ĐCS VN, Thượng sĩ, tiểu đoàn 41 Đặc công, Bộ tham mưu Quân khu III. Từ tháng 10-1979, đơn vị Đinh Trọng Lịch được giao nhiệm vụ bảo vệ cảng Hải Phòng. Đã chỉ huy trung đội tuần tra canh gác chặt chẽ ngày đêm, cùng đơn vị bắt quả tang 10 vụ ăn cắp, trong đó có vụ bắt 4 tên, lấy lại tài sản có giá trị lớn. Ngày 17-4-1980, phát hiện xe IFA, biển số 34A-0174, chở hàng từ kho 11 tránh đường chính chạy ra cổng, Lịch nhanh chóng chạy ra ngăn lại. Tên lái liền cho xe chạy tốc độ lớn. Thấy người gác không giữ xe lại, còn mở cổng cho xe đi, Lịch đã dũng cảm nhảy lên bậc bên phải thành xe, yêu cầu lái xe phải dừng lại. Tên lái càng cho xe chạy nhanh hơn, đến gần một cột điện và hàng cây bên đường, tên lái cho thành xe phía Lịch đứng va mạnh vào cột điện và hàng cây, khiến Lịch bị thương nặng ngã xuống đường. Hung thủ còn đè chết 1 công nhân cảng rồi chạy trốn. Khi được đưa vào bệnh viện, Đinh Trọng Lịch còn gắng gượng nói: "Hãy bắt tên lái xe và đồng bọn!" Được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba.

1065. Đinh Văn Tuy (Lê Cảnh, 1922-1990)

Trung tướng, quê x. Chí Hòa, h. Hưng Hà. Đảng viên ĐCSVN (1947), 8/1945 - 1946: Trung đội phó tự vệ thành Hà Nội, Trung đội phó Vệ quốc đoàn. Tháng 7/1947 - 1954 giữ các chức vụ từ cán sự huyện đội đến Tỉnh đội trưởng Hà Đông; Trung đoàn trưởng Trung đoàn 254 (Sư đoàn 350). Tháng 7-1955 phụ trách bộ phận cố vấn Việt Nam ở Phong Sa Lì (Lào). Tháng 6-1960, chỉ huy trưởng CANDVT khu Tây Bắc. Năm 1963, cán bộ Cục tham mưu Bộ tư lệnh CANDVT. Năm 1996, chỉ huy trưởng CANDVT, rồi Trưởng ty, kiêm Chính ủy CANDVT Nghệ An. Tháng 10/1971 - 1974, Cục phó Cục tham mưu, Phó chính ủy, Chính ủy Bộ tư lệnh CANDVT. Năm 1981-1990, Tư lệnh Bộ đội biên phòng. Huân chương: Quân công (hạng nhất, nhì), Chiến công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến thắng hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất.

1066. Đình kiều bi ký 亭 橋 碑 記

Bia dựng năm Tự Đức thứ 23 (1870), tại đình th. Thắng Cựu, x. Tri Lai, Vũ Tiên (nay là x. Tân Bình, h. Vũ Thư). Bia 1 mặt, khổ 1.50m x 0.90m. Gồm 16 dòng, khoảng 350 chữ. Trang trí rồng. Người soạn: Họ Bùi (không rõ tên) - Bố chính Quảng Bình. Nội dung: Bài ký của viên Bố chính t. Quảng Bình ghi lại việc quyên góp và cúng tiền để xây đình và cầu đá do ông đứng ra chủ trì. Bài minh 8 câu, ca ngợi công đức. N. 18676.

1067. Đình Ngũ 亭 伍

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Canh Nông, h. Duyên Hà,  p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Hưng Yên, từ 1894 thuộc t. Thái Bình). Trong KCCP thuộc x. Tam Điệp, h. Duyên Hà. Nay thuộc x. Điệp Nông, h. Hưng Hà. Dân số 1.560 người (1927). Thờ ỷ Lan Công chúa, Minh Không. Thần tích x. Đình Ngũ : 24 tr., gồm sự tích Không Lộ Thiền Sư, Thiên Quan Đại Vương thời Hùng Duệ Vương, do Nguyễn Bính soạn năm 1572; và sự tích Cảm Uy, Đệ Nhất Cung Phu nhà Lý. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 2 thần tích, thần ỷ Lan Công chúa, Minh Không. Tục lệ x. Đình Ngũ : 10 tr., gồm 20 lệ, lập ngày 18 tháng 7 năm Thành Thái 2 (1890). Hương ước x. Đình Ngũ (1942): 32 tr. viết tay.

1068. Đình Phùng

Xã thuộc h. Kiến Xương, đơn vị Anh hùng LLVTND. Thành lập năm 1947, năm 1955 tách thành 2 xã Đình Phùng và Nam Cao. X. Đình Phùng gồm các thôn Bạt Trung Nội, Cao Bạt Nang, Nam Huân (l. Nang). Năm 2003, tổ chức lại thành 5 thôn: Cao Trung, Cao Bạt Nang, Nam Huân Bắc, Nam Huân Trung, Nam Huân Nam. Trước 1945, thuộc tg Nam Huân, p. Kiến Xương.  Diện tích tự nhiên là 360 ha; dân số 3.550 người, gồm 1005 hộ.

Ba mặt có sông bao bọc. Là một xã thuần nông. Thế đất bằng phẳng, hơi thấp, thuận lợi cho sản xuất lúa và nuôi trồng thủy sản.  Đình Phùng có chi bộ Đảng và phong trào cách mạng từ đầu những năm 30. Là căn cứ cách mạng vững chắc của huyện và tỉnh. Cơ sở in tài liệu của Đảng đặt tại nhà thờ Phạm Quang Lịch. Trong KCCP, quân và dân Đình Phùng kết hợp với bộ đội đánh 186 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 575 tên, thu 1 pháo 105 ly, 451 súng máy. Trong KCCM, lực lượng dân quân đánh trả máy bay địch nhiều trận; động viên 1126 thanh niên nhập ngũ; góp 16.552 tấn lương thực, 352 tấn thực phẩm cho tiền tuyến. Có 153 liệt sĩ, 71 thương binh, 20 lão thành cách mạng, 3 gia đình có công với nước, 18 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 2 người được phong cấp tướng. Xã được tặng thưởng 2 Huân chương Kháng chiến hạng nhì, hạng ba; 1 Huân chương Lao động hạng ba; 1432 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.

1069. Đình Phùng I

Cầu trên tỉnh lộ 222, km 10 + 416, vượt ngòi Đen,

địa phận x. Đình Phùng, h. Kiến Xương. Năm 1930-1931 đã có cầu tạm, năm 1877 xây cầu mới bằng bê tông cốt thép, dài 5,8 m; rộng 4 m, tải trọng H 8.

1070. Đình Phùng II

Cầu trên tỉnh lộ 222 km 10 + 900, vượt sông Nam Huân, địa phận x. Đình Phùng, h. Kiến Xương. Năm 1930-1931 đã có cầu tạm, năm 1977-1978 xây cầu mới bằng bê tông cốt thép, dài 23 m, rộng 6 m, tải trọng H8.

1071. Đình Thượng

Cầu trên tỉnh lộ 216, km 0+100, địa phận x. Lô Giang, h. Đông Hưng. Năm 1930-1931 đã có cầu dầm thép, năm 2004-2005 xây cầu mới bằng bê tông cốt thép dài 6 nhịp 55,6 m, rộng 4,1m; tải trọng H8.

1072. Đình Thượng

Đồn Pháp lập  ngày 13-10-1951, tại đầu cầu Đình Thượng, th. Thượng, tg Cổ Quán (nay là x. Minh Tân, h. Đông Hưng). Lực lượng khoảng 300 tên do tên quan hai Pháp và thượng sĩ Nguyễn Văn Thưởng chỉ huy. Đóng trên diện tích khoảng 3000m 2 ; có 5 lô cốt, trong đó có lô cốt 2 tầng xây bằng xi măng cốt thép, các lỗ châu mai hoả lực đều có thể kiểm soát, khống chế trên trục đường và trên sông. Giao thông hào nửa nổi, nửa chìm, có nắp che nối liền các lô cốt, ụ súng. Đồn Đình Thượng là trung tâm chỉ huy của các cuộc càn quét khu vực Tiên - Duyên-Hưng. Địch thành lập các ban tề, biến khu du kích Tiên-Duyên-Hưng thành vùng tạm bị chiếm. Ngày 17-6-1954, tiểu đoàn bộ đội chủ lực thuộc trung đoàn 64 phối

hợp với bộ đội h. Tiên Hưng tiến công san phẳng đồn.

1073. Định Cư  定 居

Xã cũ cuối tk. XIX là ấp Định Cư, thuộc tg Tân Hưng, h. Tiền Hải, p. Kiến Xương, t. Nam Định. Đầu tk. XX là x. Định Cư, thuộc tg Tân Hưng,  h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Hữu Nam, h. Tiền Hải. Nay thuộc x. Đông Quý, h. Tiền Hải. Dân số 1284 người (1927). Hương ước x. Định Cư (1936): 10 tr. viết tay. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 13 tr., 4 tr. chữ Hán; 3 đạo sắc phong; thần: Đại Hải Tỉnh Trấn, Bản cảnh Thành hoàng.

1074. Định Cư

Cống dưới đê, tại km 14+897 đê biển số 6, x. Đông Quý, h. Tiền Hải. Xây dựng năm1998, thay thế cho cống cũ xây năm 1930. Hai cửa, mỗi cửa rộng 3,60m, cao trình đáy (-1.30). Bằng bê tông cốt thép, dạng hộp. Chất lượng còn tốt. Để  tiêu nước và lấy nước tưới vụ mùa từ sông Trà Lý vào sông Long Hầu cho các x. thuộc khu Đông h. Tiền Hải. Các nhánh của sông Long Hầu đều thuộc hệ thống thủy lợi do Nguyễn Công Trứ để lại.

1075. Đò

Đò dọc kéo trên sông Trà Lý trước  1965

Thuyền chở khách trên sông theo một tuyến nhất định. Gồm có đò ngang và đò dọc.

Đò dọc ngoài việc chở khách, còn chở hàng hoá của người buôn bán giao lưu giữa các vùng. Chọn ngày hạ thuỷ vào ngày con nước, song phải là lúc nước lên, kỵ ngày con nước chết. Đò kỵ chở người chết, hài cốt, kiêng mèo nhảy qua. Không cứu người gặp nạn trên sông. Cúng đò mới như cúng nhà mới, có thêm phần cúng "Hà Bá". Bên cạnh đó là cúng chúng sinh, những phần hồn vô vọng, tuyệt tự, lang thang (sắp lễ cúng ngay trên đò). Cúng các "tiết" trong năm, ngày rằm, mùng một phải thật đầy đủ (cúng tại nhà lái đò ở bến chính). Cúng đầu năm mới, tất niên (cúng trên đò). Hành khách khi qua sông làm các việc hiếu hỷ, đưa trẻ sơ sinh thường thả xuống sông một ít tiền thật (tuỳ tâm). Không để súc vật, người uế tạp vào khu vực lái đò.

1076. Đò Gồ

Kè lát mái tại km 39 +470 đến km 39 + 950 đê hữu Trà Lý, x. Quốc Tuấn, h. Kiến Xương. Tại vị trí kè có đò Gồ qua sông Trà Lý. Xây dựng năm 1991, sửa chữa năm 2003, bầng đá hộc, xếp khan mái, thả rông, gieo đá giữ chân. Chiều dài 530m, cao trình đỉnh (+2.00), chân (-12.00). Có lạch sâu sát chân bị xói lở 2 đầu, tụt mái, chưa ổn định.

1077. Đọ

Đền còn gọi là miếu Bắc, thuộc th. Đọ, x. Đông Sơn, h. Đông Hưng. Đền có từ thời Đinh, các đời đều có tu sửa. Đền hiện nay được đại tu và mở rộng vào năm Thành Thái thứ 8 (1896). Đền bố cục chữ "đinh". Bái đường 5 gian. Hậu cung 1 gian, phong cách kiến trúc giống tòa bái đường. Đồ thờ tự rất phong phú, xà cột treo kín cuốn thư, đại tự, câu đối sơn son thếp vàng. Các bàn thờ, đồ tam sư, thất sư bằng đồng, bằng gỗ, gốm sứ đều đẹp. Được xếp hạng DTLS cấp Quốc gia (1989).

1078. Đoài

Cống dưới đê, tại km 1+ 360 đê biển số 8, x. Thụy Ninh h. Thái Thụy. Xây dựng năm 1960. Rộng 1,60m, 1 cửa. Cao trình đáy (-1.00). Thân cống dài: 11m, xây bằng gạch, dạng vòm. Cánh van thép, đóng mở bằng vít me. Cống tiêu nước và lấy phù sa từ sông Hóa cho x. Thụy Ninh. Chất lượng kém.

1079. Đoài

Cống dưới đê, tại km 1+ 288 đê biển số 8, x. Thụy Ninh, h. Thái Thụy. Xây dựng năm 1979. Rộng 6m, 2 cửa. Cao trình đáy (-0.80), thân cống dài 2m. Bằng bê tông cốt thép, cánh van thép, đóng mở bằng vít me. Cống được xây dựng theo quy hoạch hoàn chỉnh hệ thống thủy nông để đưa nước từ đoạn kênh chính của trạm bơm Hệ nằm ở phía ngoài đê biển số 8 vào trong đồng tưới cho 9320 ha phía bắc h. Thái Thụy. Cống được tu bổ, sửa chữa, sơn cánh thường xuyên. Chất lượng hiện tại còn tốt.

1080. Đoài

Đình th. Đông Đoài, x. Thụy Quỳnh, h. Thái Thụy. Đình cổ, đại tu vào năm Thành Thái thứ 2 (1890), trong chiến tranh, tòa bái đình bị hủy diệt, chỉ còn lại kiến trúc cũ, gồm 2 tòa, bố cục kiểu chữ "đinh". Bái đình 3 gian. Hậu cung đại tu năm 1890, thêm lần tu tạo năm 1914. Đồ thờ tự còn 1 bức cuốn thư lớn nền gấm, đề 3 chữ Hán: "Túc thanh cao", 1 cỗ ngai chạm rồng, 1 bộ bát bửu, 1 chuông đồng. Di vật còn lại 1 tấm bia khắc. Theo thần tích viết năm 1861, thì đình thờ Lôi Công và Trí Công, con cụ Đinh Việt và phu nhân Nguyễn Thị Hiên. Gặp khi Thục Phán vây đánh Văn Lang, Lôi Công, Trí Công được vua Hùng Vương phong làm tướng, đem quân đánh dẹp.

1081. Đoài Thôn tự bi 兑 村 寺 碑

Bia dựng năm Chính Hoà thứ 25 (1704), ở chùa th. Đoài, x. Văn Ông, p. Thái Ninh (nay là x. Đông Vinh, h. Đông Hưng). Bia 4 mặt, khổ 1.02m x 0.21m. Gồm 17 dòng, khoảng 200 chữ. Hoa văn chạm hoa lá. Người soạn: Giám sinh Nguyễn Đăng Tạo.  Nội dung: Ghi việc các quan viên, hương lão hai thôn Đông, Đoài, x. Văn Ông, h. Thanh Lan, p. Tiên Hưng quyên góp tiền xây dựng cột thiền đài chùa Sùng Khánh. Có ghi tên họ những người cúng tiền. Bài minh 12 câu, ca tụng công đức.

1082. Đoan Bản 端 本

Xã cũ vốn là th. Đoan Bản, được lập thành xã riêng biệt theo Quyết định số 27 ngày 26-6-1902 của Thống sứ Bắc Kỳ.  Đầu tk. XX thuộc tg Hà Lão, h. Hưng Nhân, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Tân Thịnh, h. Hưng Nhân. Nay thuộc x. Tiến Đức, h. Hưng Hà. Dân số 339 người (1927). Thần tích x. Đoan Bản: 1 bản viết, 16 tr., 31 x 21, chữ Hán . AE.a5/24 do Nguyễn Hiền sao năm 1737, về sự tích Kỳ Công thời Hùng Duệ Vương, được gia phong Đương Cảnh Thành hoàng Cửa ải Vũ Quân Thượng Đẳng Phúc thần Đại Vương. Tục lệ th . Đoan Bản: 16 tr., gồm 17 lệ, lập ngày 24 tháng 2 năm Thành Thái 11 (1899), sao lại ngày 24 tháng 7 năm Duy Tân 9 (1915).

1083. Đoan Hùng

Xã thuộc h. Hưng Hà, cách thị trấn huyện lỵ 5 km về phía bắc. Thành lập 1947, gồm 6 thôn: Đôn Nông, Chấp Trung, Tiên La, Văn Mỹ, Hà Lý, Trung Đẳng. Năm 1955 cắt 2 thôn  Hà Lý, Trung Đẳng về x. Hùng Dũng. 2003 tổ chức lại thành 5 thôn: Chấp Trung 1, Chấp Trung 2, Đôn Nông, Tiên La, Văn Mỹ. Trước 1945, l. Chấp Trung thuộc tg Hà Lý; các làng Đôn Nông, Tiên La, Văn Mĩ thuộc tg Canh Nông, h. Duyên Hà. Diện tích  tự nhiên 541 ha; dân số 7560 người (344 người theo đạo Thiên chúa), gồm 2000 hộ. Thế đất bằng phẳng, hơi thấp trũng, nằm sát sông Nhâm Lang. Có đền Tiên La thờ Bát Nạn tướng quân, là Di tích lịch sử cấp nhà nước; 3 đình, 2 đền, 4 chùa, 1 lăng mộ, 5 bia đá. Hàng năm có tổ chức lễ hội truyền thống. Hội Tiên La là hội lớn trong tỉnh. Có 4 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 130 liệt sĩ, 62 thương binh, 2100 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại. Có 1 Thiếu tướng.

1084. Đoan Túc  端 肅

Xã cũ cuối tk. XIX thuộc tg Tri Lai, h. Vũ Tiên, p. Kiến Xương, t. Nam Định. Đầu tk. XX thuộc tg Tri Lai,  h. Vũ Tiên, t. Thái Bình. Nay thuộc ph. Tiền Phong, tp. Thái Bình. Dân số 1318 người (1927).

1085. Đoan Túc


Chùa có từ xa xưa, thuộc ph. Tiền Phong, tp.

Thái Bình, diện tích 5.040m 2 , đại tu năm Chính Hòa thứ 7 và năm 1912. Tam quan xây chồng diêm, 2 tầng, 3 nóc, 14 mái. Chùa chính bố cục "Tiền nhất, hậu đinh", 3 tòa, 13 gian. Bái đường vì kèo thượng quang hạ kẻ, chùa Phật vì chồng đấu hoa sen đều kết cấu lòng thuyền tứ trụ, bẩy chạm văn mây, 2 cánh gà bổ trụ, 3 gian giữa đóng cánh cửa khay. Cửa tiền đường chia 3 khay ô, điện phật chia 5 tầng ô chạm đường diềm hạt châu, và các phù điêu chim phượng, văn mây sóng nước, tứ linh, tứ quí, hoa lan. Các gian chính đường đều lắp cửa võng, chạm long, ly, qui, phượng hoặc tùng, trúc, cúc, mai, sơn son thếp vàng. Còn 5 bức đại tự nền gấm, 8 đôi  câu đối nền gấm hoặc sơn son thếp vàng, 12 pho tượng Phật, 2 tượng Kim Cương, 2 tượng đức Ông. Ngày 19-8-1945, nhân dân làng Đoan Túc và các vùng lân cận đã tập trung ở chùa, theo hiệu lệnh tiến về thị xã (nay là tp. Thái Bình) khởi nghĩa, bức chính quyền thân Nhật phải đầu hàng, tổ chức mít tinh, tuần hành. Được xếp hạng DTLS cấp Quốc gia (1989).

1086. Đoan Túc xã bi kí  端 肅 社 碑 記

Bia dựng năm Tự Đức thứ 34 (1881), ở đình x. Đoan Túc, h. Vũ Tiên (nay là ph. Tiền Phong, tp. Thái Bình). Người soạn: Họ Nguyễn (không rõ tên), huyện doãn Phủ Cừ, t. Hưng Yên. Người viết: Phạm Hữu Bí. Nội dung: X. Đoan Túc trước đây chỉ có một ngôi miếu. Khi chưa tế thì trai tịnh ở đấy. Tế xong lại ăn uống ở đấy. Như vậy bất tiện, nay bàn lấy trong hội hiếu 1080 quan tiền để xây một ngôi nhà phía nam của miếu, xây xong lập bia kỷ niệm. N. 18613.

1087. Đoàn Đông Hải

Thần thờ ở đình l. Công Bồi, tg An Bồi, h. Trực Định (nay thuộc x. Phương Công, h. Tiền Hải). Sự tích : Cha là Đoàn Trung, mẹ Nguyễn Thị Phương, người đất Hồng Châu thị (nay là x. Đoàn Thượng, h. Gia Lộc, t. Hải Dương). Đoàn Trung làm quan dưới triều Lý Anh Tông. Đoàn Thượng sinh vào thời Anh Tông, đến thời Cao Tông ra ứng thí ( 23 tuổi), trúng cách, được bổ chức Thị tụng Tham quan Luyện đạt triều trung chính sự. Khi Hoàng hậu sinh Thái tử Sảm, Cao Tông sai Đoàn Thượng tìm Nhũ mẫu cho Thái tử, ông bèn tiến cử nhũ mẫu, người đã nuôi mình từ nhỏ. Thái tử lên ngôi lấy hiệu là Huệ Tông, nhớ tình anh em đồng nhũ, Đoàn lại là người tài năng trung hậu, tôn Đoàn chức Tham tán Đại phu, được phép mang gươm vào triều, tham dự việc triều chính. Huệ Tông không có con trai kế vị, phải nhường ngôi cho con gái là Chiêu Hoàng. Trần Thủ Độ chuyên quyền, tranh ngôi cho nhà Trần. Đoàn Thượng quay về cố thủ đất Hồng Châu, xưng là Đông Hải Đại Vương nuôi chí phục hồi nhà Lý. Thế lực của Đoàn rất mạnh, nhà Trần phủ dụ mãi không được, Thủ Độ giảng hòa, xúi giục Nguyễn Nộn (vốn là đồng liêu cùng làm tướng dưới triều Lý với Đoàn Thượng, giả hẹn với Đoàn Thượng tới xứ Đồng Đao, đất Yên Nhân (nay thuộc Bần Yên Nhân, h. Yên Mỹ, t. Hưng Yên) cùng uống máu ăn thề diệt Trần, phục Lý. Nguyễn Nộn, Trần Thủ Độ cho quân phục sẵn, đợi khi thấy Đoàn Thượng tới hè nhau xông lên chém. Hôm ấy, nhằm vào ngày 10 tháng Một (âm). Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng có hàng mấy trăm làng xã khắp trong nước phụng thờ, nhưng nhiều nhất là các địa phương miền duyên hải. Nhưng nơi thờ chính là l. Yên Nhân, nơi ông hy sinh và quê hương ông - x. Đoàn Thượng, h. Gia Lộc, t. Hải Dương.

Thái Bình tỉnh thần tích (AE.a5/1,2), (Q4 0 -18/VIII,2)

1088. Đoàn 2 Cải cách ruộng đất

Đoàn 2 CCRĐ ở Thái Bình làm công tác trong 48 xã thuộc hai huyện Thái Ninh và Thụy Anh. Các đội công tác về xã đã thực hiện 3 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm), phát động nông dân đấu tranh. Sau hơn 2 tháng đấu tranh, ngày 5-3-1956, Đoàn 2 đã sơ kết công tác bước 2: Kết nạp 180 bần cố nông vào Đảng, 1.167 thanh niên lao động,  3.789 hội viên Nông hội. Tịch thu, trưng thu của địa chủ 2.255 mẫu ruộng đất, 865 trâu bò, 185.537 kg thóc, 525 con lợn. Bắt thoái tô 29.978 kg thóc và gần 20 triệu đồng. Tịch thu gần 20 tấn thóc của địa chủ phân tán không hợp pháp. Lãnh đạo nông dân đẩy mạnh phong trào chống hạn, cấy chiêm: Đào hơn 50.000 thước mương, 1.897 giếng nước ăn; khơi 5.476 thước ngòi, tưới 63.796 mẫu ruộng, cấy 31.127 mẫu lúa chiêm.

1089. Đoàn Huệ Nhu (tk. XV)

Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487), đời Lê Thánh Tông. Quê l. Phù Vệ, nay thuộc x. Liên Hiệp, h. Hưng Hà. Do làm con nuôi họ Phạm nên có sách chép là Phạm Huệ Nhu. Ông là nhà thơ duy nhất của Thái Bình tham gia Tao đàn Nhị thập bát tú do vua Lê Thánh Tông sáng lập. Vua khen bài thi của Đoàn ý  sâu rộng, thân chọn ông vào cung giữ giức "Giảng dụ quan" để dạy bảo các Hoàng tử. Năm 1490, đi sứ sang nhà Minh, năm sau về nước, được thăng chức Hàn lâm viện Kiểm thảo. Được Lê Thánh Tông tin dùng, thường triệu đến hoặc bàn việc triều đình, hoặc đàm đạo về thơ ca. Tác phẩm hiện còn Đoàn tiên công thi tập , rải rác được các dịch giả giới thiệu và có tuyển in trong Thơ văn thời Lê .

1090. Đoàn Nguyễn Thục (1728-1775)

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Nhâm Thân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 (1752), đời Lê Hiển Tông. Còn có tên là Nguyễn Duy Tĩnh, gốc họ Nguyễn, làm con nuôi họ Đoàn nên đổi sang họ Đoàn, gọi là Đoàn Nguyễn Thục. Tên Thục còn để tránh phạm húy Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm. Quê l. Hải An, nay thuộc x. Quỳnh Nguyên, h. Quỳnh Phụ. Được làm việc ở Ngự sử đài, thăng dần lên đến Thiêm Đô ngự sử. Tính cương trực, thẳng thắn có lần ông hạch tội cả Trịnh Lệ họ nhà chúa, được chúa Trịnh ban thưởng. Năm Tân Mão, (1771), giữ chức Tự khanh, Chánh sứ sang nhà Thanh. Sau đó, ông được cử giữ chức Giám quân, thăng Tây Đạo tướng quân, tước Quỳnh Châu bá. Năm Giáp Ngọ (1774), được cử làm Đốc tướng vào Đàng Trong lấy đất Thuận Hoá, được ban thưởng (5000 lạng bạc) - ông đã đem tiền ấy ban cho khắp lượt quân dân. Sau, ông xin cáo quan về quê dạy học, cùng bạn bè ngâm vịnh và để lại cho đời Hải An thi tập viết trong chuyến đI sứ. Thi hào Nguyễn Du, con rể ông, cũng đã từng tá túc ở đây 10 năm. Sau khi mất được truy tặng hàm Đô ngự sử.

1091. Đoàn Nguyễn Tuấn (1750 - ?)

Hiệu Hải Ông, là con trai Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục, anh vợ thi hào Nguyễn Du, quê l. Hải An, x. Quỳnh Nguyên, h. Quỳnh Phụ. Đỗ Cử nhân đời vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786). Sinh vào thời loạn lạc nên ông không học tiếp, nhiều nguồn sử liệu cho rằng ông đã cùng bạn bè vào Phú Xuân yết kiến Nguyễn Huệ, được tin dùng. Dưới triều Tây Sơn, Đoàn Nguyễn Tuấn làm Tả Thị lang bộ Lễ. Năm 1789, sau khi  đánh tan 20 vạn quân Thanh, Quang Trung cử đoàn sứ bộ sang nhà Thanh gồm các ông Ngô Thì Nhậm, Đoàn Nguyễn Tuấn, Phan Huy ÝChú… Với tài ngoại giao của các sứ thần ta, nhà Thanh đã phải chấp nhận phong vương cho Quang Trung Nguyễn Huệ. Tài thơ văn của Đoàn Nguyễn Tuấn làm cho nhân sĩ Trung Quốc phải nể phục. Theo Tây Sơn lược thuật thì Đoàn Nguyễn Tuấn từng dựng trong vườn nhà mình một ngôi nhà sàn gọi là "Phong Nguyệt sào" (Tổ trăng gió) cùng các danh sĩ làm thơ, ngâm vịnh và còn để lại Hải Ông thi tập . Mất năm nào chưa rõ.

Xt: Phong nguyệt sào (3185)

1092. Đoàn Nguyễn Tuấn

Đường phố, đặt tên ngày 9-9-2003, dài 0,26km, nền đường 12m, mặt đường 7m, chạy theo hướng tây bắc - đông nam. Phía đông giáp ph. Đề Thám, phía tây giáp ph. Quang Trung. Điểm đầu giáp phố Trần Hưng Đạo, điểm cuối giáp phố Quang Trung. Mặt đường rải đá láng nhựa. Không có vỉa hè, không có cây bóng mát. Các đoàn Ca múa kịch, Cải lương, Nhà hát chèo đều ở phố này.

1093. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Thái Bình

Ra đời từ 26-3-1931 với tên gọi là Thanh niên Cộng sản đoàn; Đoàn Thanh niên dân chủ (1931-1939); Thanh niên phản đế (1939-1941); Thanh niên cứu quốc (1941-1945)… và từ 1980, đổi tên thành Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam trên địa bàn tỉnh; chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Là đội dự bị tin cậy của Đảng, trường học XHCN của thanh niên, người đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền lợi của tuổi trẻ; là người phụ trách đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam…

Trụ sở : Số 4, phố Hoàng Diệu, tp. Thái Bình.

1094. Đòn càn

Dụng cụ gánh lúa, rạ, rơm, cói... làm bằng tre

hoá, để nguyên cây, không chẻ. Chọn tre đực già, thân thẳng đều đường kính từ 3- 4cm, chiều dài khoảng gần 2m, tránh đầu mặt vào giữa vai để gánh không bị đau vai. Hai đầu đòn càn đẽo vát, nhọn, xuôi một bên. Đầu vát dài khoảng hơn 20cm. Lúa, rạ rơm, cói được bó bằng lạt cho gọn, chắc. Người gánh phải khoẻ, thường là nam giới. Khi gánh lúa phải xiên cho khéo tránh bị rụng hạt. Gánh bằng đòn càn rất thuận tiện, không cần phải quang mà lại được nhiều. Trong kháng chiến chống Pháp, đòn càn là vũ khí đánh giặc của du kích Thái Bình.

1095. Đòn gánh

Dụng cụ được dùng rất phổ biến ở Thái Bình,  cùng với quang để gánh lúa, mạ, thóc gạo, phân bón, vận chuyển các loại hàng hoá. Đòn gánh làm bằng tre hoá già, chọn cây tre thân to đường kính từ 6-7 cm, nhưng không cộc ngọn, không bị kiến làm tổ bên trong ống, các đốt phải đều nhau, thường lấy từ 7- 9 đốt. Kiêng đòn gánh đốt chẵn, vì có quan niệm đòn gánh này buôn bán không có lộc, gánh lại đau vai.

Cách làm: lấy 1 đoạn tre dài 1,2 - 1,3m dùng dao bổ dọc, lọc bỏ bớt phần ruột, 2 đầu phía ngoài làm mỏng hơn so với ở giữa. Uốn đòn gánh cho hơi cong lên trên, khi gánh sẽ cảm thấy nhẹ. Ngoài đầu cùng có đinh chốt làm bằng tre, hoặc tạo mấu bằng cách để đầu mặt nhô lên giữ cho vật gánh không bị rơi.

1096. Đòn ống

Dụng cụ để gánh chiếu, vó gai, võng đay, hàng mây tre đan, vải vuông  do người dân tự dệt... Trong hội làng, trai tráng dùng đòn ống để gánh thi: Gánh cối dá, gánh đất, gánh lúa... đi quanh làng, trong sân đình. Làm bằng tre hoá già, để nguyên cây không chẻ, chọn đoạn tre dài từ 1,2- 1,5 m, cỡ to bằng bắp tay người lớn.

1097. Đòn xóc

Dụng cụ gánh lúa, rạ rơm, cói... được làm bằng tre hoặc gỗ bào nhẵn, bản dẹt, bề rộng bản chừng 6-7 cm, độ dầy khoảng 2cm. Hai bên mép đòn xóc được bào tròn, nhẵn để khi gánh không bị đau vai. Hai đầu đòn xóc làm nhọn, đẽo hình V, đầu nhọn chừng trên 20cm. Dài khoảng gần 2m (cũng chọn số đốt tre lẻ giống đòn càn). Các loại nông cụ bằng tre thường do người dân tự chế tạo, nhưng kiêng không lấy tre ở khu vực đình chùa, lăng miếu. Do có  quan niệm các nông cụ là thứ phải tiếp xúc trực tiếp với những thứ uế tạp, nếu dùng của đình chùa sẽ "phải tội".

1098. Đót

Cầu trên tỉnh lộ 223 km 32 +814, vượt ngòi Phú

Khu, địa phận x. Văn Lang, h. Hưng Hà. Năm 1930-1931 đã xây cầu tạm, được xây lại năm 1994 bằng bê tông cốt thép, dài 4 nhịp 20,5 m, rộng 5m, tải trọng  H10 - XB 60.

1099. Đô Kỳ  都 奇

Tổng thành lập đầu tk. XX trên cơ sở x. Đô Kỳ, thuộc p. Tiên Hưng, t. Thái Bình.  Có 8 xã: An Nạp, Chí Linh, Đa Phú, Đồng Phú, Khánh Lai, Mậu Lâm, Phú Lãng Đông, Phú Lãng Hữu.  Nay thuộc h. Hưng Hà.

1100. Đô Kỳ 都 奇

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg ỷ Đốn, h. Thần Khê, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Xã này có 8 thôn: Phú Lãng, Phú Lễ, Diên Trường, An Nạp, Đồng Phú, Phú Mỹ, Khánh Lai, Mậu Lâm. Đầu tk. XX lập thành tg Đô Kỳ. Trong KCCP thuộc x. Đông Đô, h. Tiên Hưng.  Nay thuộc x. Đông Đô, h. Hưng Hà.

1101. Đô Kỳ

Cầu trên tỉnh lộ 216, km 5 + 550, địa phận x. Đông Đô, h. Hưng Hà, bằng bê tông cốt thép dài 1 nhịp 14,1 m rộng 4,1 m, tải trọng H 8.

1102. Đô Lâm Nội Thị Đại Vương

Thần thờ ở th. Cao Mại Thượng, x. Cao Mại, tg Cao Mại, h. Trực Định (nay thuộc x. Quang Hưng,  h. Kiến Xương). Sự tích : Đại Vương tên là Đô Công, hiệu Lâm Công, thân phụ người x. Mộ Sơn, tg Hương Càn, h. Quỳnh Lưu, p. Diễn Châu, đạo Hoan Châu (tức Nghệ An), tên là Lê Điền. Vì gia cảnh bần bạch mới di cư tới khu Cao Mại Thượng, tg Mỹ Lạc, h. Chân Định, p. Kiến Xương, tr. Sơn Nam Hạ, là người có học vấn uyên bác am tường cả nho, y, lý, số, được hào mục chức sắc địa phương mời vào làng dạy học cho con trẻ. Về sau Điền công lấy bà Trần Thị Loan ở bản thôn rồi sinh ra Đại Vương. Lê Chân Tông hoàng đế treo bảng tuyển hiền lương phương chính, Đô Công ứng thí đỗ Hương cống, năm sau đỗ Tạo sĩ. Vua mến tài ban cho làm Nội thị Thái giám quan Luyện đạt triều chính; tại triều trên 20 năm. Bấy giờ có giặc ngoại xâm, vua phong cho Đô Công làm Chưởng Thái giám Đại tướng quân đốc lĩnh quân thủy bộ. Ông vâng lệnh đại cử hùng binh chia làm 3 ngả tiến tới Hải Dương, Quảng Yên, Kinh Bắc đánh dẹp bất phân thắng bại. Ông mang binh mã trở về Cao Mại làm lễ mật cầu Nhị vị Đại Vương (Nam Hải Tạo Lực Đại Vương Hùng Tuệ và Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục) tại miếu, tuyển lấy trai tráng (họ Trần, họ Phạm, họ Đào) làm gia thần thủ túc, rồi chia quân làm nhiều ngả tiến đánh, quân Chiêm đại bại. Tướng quân qua Cao Mại mở đại tiệc mừng chiến công 3 ngày liền. Ngài cho mở một khu chợ nhỏ tại ấp, còn dựng một ngôi đền Hội đồng cung sở. Mãn tiệc, bỗng thấy Nhị vị Đại Vương (Tạo Lực và Đông Hải) hiển linh. Một vị xưng là Nguyễn Công Đông Hải bảo Tướng quân rằng ông đã mãn hạn với Thiên đình, miệng ngâm ngợi se sẽ câu thơ: "Giặc phiên đã diệt nước yên bình - Tuân chỉ mau về chốn Thượng đình" . Rồi biến đi. Nhân dân làm lễ an táng nơi chính tẩm, Hội đồng cung sở phụng đề tên húy hiệu: Đô Lâm Nội Thị Linh ứng Đại Vương.

Thái Bình tỉnh thần tích (AE.a5/2,3), (Q4 0 -18/VIII,5).

1103. Đô Lương

Xã thuộc h. Đông Hưng, cách thị trấn huyện lỵ 5,5km về phía bắc. Thành lập năm 1955 gồm th. Phú La của x. Phú Lương và th. Tiến Trật của x. Mê Linh tách ra. Năm 2003 chia thành 6 thôn gọi theo số thứ tự từ 1 đến 6 (Phú La từ thôn 1 - 4, Tiến Trật  từ 5-6). Trước 1945, th. Phú La thuộc tg An Lạc, th. Tiến Trật thuộc tg Xích Bích, p. Tiên Hưng.

Diện tích tự nhiên 400 ha; dân số 4383 người, gồm 1250 hộ. Thế đất bằng phẳng, nằm kẹp giữa sông Đô Kỳ và sông Tà Sa. Sống chủ yếu bằng nghề nông, có thói quen trồng chè tươi trong vườn; chè Phú La nổi tiếng. Nghề thủ công có đan mây tre, thêu ren, ngoài ra còn có một số hộ làm nghề rèn sắt, nghề mộc... Có sông Tà Sa, sông Đô Kỳ chảy qua. Đô Lương có đền thờ tướng quân Đặng Thiên Thành là Di tích lịch sử văn hóa cấp nhà nước, đền thờ Nguyễn Phục (thời Lê) là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Hàng năm có 2 lễ hội ở 2 làng cổ. Có 66 liệt sĩ, 44 thương binh, 2 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, một Anh hùng LLVTND (Đinh Trọng Lịch), 487 người được tặng Huân, Huy chương các loại.

1104. Đô Mỹ Kinh 都 美 涇

Xã cũ đầu tk. XX thuộc tg ỷ Đốn, p. Tiên Hưng, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Đông Đô, h. Tiên Hưng. Nay thuộc x. Tây Đô, h. Hưng Hà. Dân số 363 người (1927).  Tục lệ x. Đô Mỹ : 14tr., gồm 37 lệ của th. Bổng lập ngày tháng 4  năm Gia Long 7 (1808), sao lại ngày 18 tháng 11 năm Duy Tân 9 (1915). Hương ước x. Đô Mỹ Kinh (1942): 9 tr. viết tay. Bản khai thần tích-thần sắc (...): 12 đạo sắc phong; thần Lê Đại Hành.

1105. Đồ đồng Quỳnh Xá

Di vật được phát hiện tháng 5-1960, tại th. Lường (Ô Cách) x. Quỳnh Xá, h. Quỳnh Côi (nay là h. Quỳnh Phụ) gồm 6 mũi tên đồng , đều có 3 cạnh loe ra như 3 múi khế; 5 cái đã gãy chuôi. Mũi tên có độ dài bằng nhau: 0,065m. Ba lục lạc (nhạc đồng), hình bẹt, kiểu hạt xoài bị cắt 1 đầu dài 0,09m, ngang 0,065m. Bốn lưỡi búa nguyệt (rìu xéo) hình dáng giống nhau, kích thước khác nhau, chất liệu bằng đồng. Cái to nhất, lưỡi rộng 0,10m, hạng tra cán 0,085m. Cái nhỏ nhất lưỡi rộng 0,75m, họng tra cán 0,075m. Một lưỡi rìu cân , bằng đồng, lưỡi rộng 0,095m, thân và họng tra cán dài 0,11m. Một lưỡi rìu đồng kiểu chữ U (thường gọi là nạo hoặc mai), lưỡi rộng 0,085m, có dấu vết mài mòn trong quá trình sử dụng. Những cục hợp chất màu đen, tổng cộng 2,2kg (chưa xác định là chất gì). Toàn bộ hiện vật trên đều nằm dưới đáy ao, không sâu lắm, diện tích ao khoảng (50 ´ 30)m - 1500m. Vị trí phát hiện những đồ đồng này là khu vực có nhiều đồ gốm mang phong cách giai đoạn văn hoá khảo cổ Đường Cồ. Gò đất sát ao đã san bằng nhưng có nhiều hiện vật gốm nói trên gạch thời Hán - Tùy - Đường. Đặc biệt, những đồ đồng nói trên rất giống với đồ đồng tìm thấy ở di tích thành Cổ Loa. Đây là những di vật nằm trong di chỉ khảo cổ học thời đại đồ sắt văn hoá Đông Sơn (thiên niên kỷ 1 trước sau CN) ở Thái Bình. Từ những năm 1960, địa điểm này đã được đánh dấu trên bản đồ khảo cổ văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam. Toàn bộ hiện vật trên hiện đang được bảo quản tại Bảo tàng Thái Bình.

1106. Đỗ Cảnh (? - 1522)

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Giáp Tuất, niên hiệu Hồng Thuận thứ 6 (1514), đời Lê Tương Dực. Người l. An Bài, nay thuộc ttr. An Bài, h. Quỳnh Phụ. Là thế hệ thứ 3 họ Đỗ ở l. An Bài đỗ đại khoa. Được bổ làm quan ở bộ Binh, sau thăng đến Tả Thị lang Bộ Binh. Thời vua Lê Chiêu Tông (1516-1522), đi sứ nhà Minh, về nước, được chuyển sang Tả Thị lang Bộ Lại. Mạc Đăng Dung tiếm quyền, ông hộ giá vua Chiêu Tông định chạy vào Thanh Hóa hô hào Cần vương, việc không thành ông bị Mạc Đăng Dung bắt và giết chết. Thời Lê Trung Hưng ông được phong làm Phúc thần l. An Bài.

1107. Đỗ Cung (tk. XVI)

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (Thám hoa), khoa Canh Thìn, niên hiệu Diên Thành thứ 3 (1580), đời Mạc Mậu Hợp. Còn có tên Võ ảnh, quê l. An Bài, nay thuộc ttr. An Bài, h. Quỳnh Phụ. Ông là thế hệ thứ 5 họ Đỗ l. An Bài đỗ đại khoa và trong một kỳ thi, hai anh em ông người đỗ Thám hoa, người đỗ Hoàng giáp. Được bổ chức Thừa chính sứ Dương Kinh (Hải Dương), sau thăng Tế tửu Quốc Tử giám. Tổ tiên ông ba đời ăn lộc nhà Lê nên thời Lê Trung Hưng ông theo về với nhà Lê và được phong tới chức Lễ bộ Tả Thị lang, nhưng em ông Đỗ Diễn lại phò nhà Mạc, chống nhà Lê, sợ liên lụy ông bỏ nhiệm sở đi mất tích (con cháu họ Đỗ l. An Bài thì cho rằng ông bị giết ở Kinh thành).

1108. Đỗ Diễn (? - 1596)

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Canh Thìn, niên hiệu Diên Thành thứ 3 (1580). Quê l. An Bài, nay thuộc ttr. An Bài, h. Quỳnh Phụ. Là con trai Tiến sĩ Đỗ Nhân An và là em Thám hoa Đỗ Cung. Giữ chức Ngự sử Đông Đạo kiêm Kinh lược sứ An Bang (vùng Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh nay), tước Nghĩa Quốc công. Trong khi đang ở Đông Đạo thì Kinh thành thất thủ, vua tôi nhà Mạc chạy về Kim Thành (Hải Dương) thì bị bắt. Phù Mạc, chống Lê, ông về p. Thái Bình, tập hợp được hàng vạn người đắp thành từ p. Tân Hưng sang p. Kiến Xương, lại liên kết với Uy Quốc công, Dũng Quốc công (không rõ tên) làm chủ cả vùng nam Sông Luộc. Tiết chế Trịnh Tùng, Thái úy Nguyễn Hoàng đem đại quân về đàn áp, ông bị thua. Trong trận này quân triều (Lê) cắt được "một vạn chiếc tai" chính sử nhà Lê cũng phải xếp ông vào hàng "kiệt liệt". Sau thất bại ở Sơn Nam, Đỗ Diễn chạy lên Thái Nguyên, ngày 24 tháng 6 năm ất Mùi, Quang Hưng thứ 18 (1596), ông bị giết. Sử sách ghi nhận về ông như một tấm gương trung liệt.

1109. Đỗ Duy Đê (1817-1853)

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức 2 (1849). Quê l. Hương Cáp, nay là th. Phương Cáp, x. Hiệp Hoà, h. Vũ Thư. Đỗ Cử nhân năm Mậu Thân (1848), năm sau đỗ Hoàn

Tin mới ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 0 đánh giá

Album ảnh, Đại Hội VIII - Hội đồng hương Thái Bình CHLB Đức, Berlin 16.05.2016

Thanh niên & Sinh viên Thái bình

Hát xẩm - Hồng Tươi - Hoàng Thị Dư - Xuân Phương - Trà Giang

Tỷ giá - Thời tiết

Tỷ giá

Thông tin thời tiết

   

Back To Top